Bảng dữ liệu bài viết

Tùy chỉnh đọc

Cỡ chữ
Khoảng cách dòng

Lịch sử Hội Thánh & Cải Chánh

Lịch Sử Hội Thánh — Phần 3: Cuộc Cải Chánh (The Reformation)

Bảy trật tự ưu tiên đã bị đảo lộn trong Giáo hội, cách Martin Luther đưa chúng về lại đúng vị trí, và ngọn lửa lan khắp Châu Âu sau ông

45 phút đọcCó sẵn bằng ngôn ngữ: EnglishEnglishEnglishEnglishEnglishEnglishEnglishEnglishEnglishEnglish

Cách bài viết này thành hình: AI hỗ trợ tìm nguồn, đối chiếu dữ kiện, chuyển ngữ và câu chữ. Lập luận và kết luận là của tác giả.

Mạch lập luận, ý nghĩa và các kết luận đều là của tác giả. Tin vào nguồn nào và hiểu nó ra sao là phán đoán của tác giả, không phải của công cụ.

Các công cụ AI được dùng để tìm nguồn, đối chiếu các luận điểm với nguồn và đọc rộng quanh chủ đề, để chuyển ngữ bài viết giữa tiếng Anh và tiếng Việt, và để chỉnh ngữ pháp, làm rõ ý và trau chuốt nhịp câu.

Những gì chúng tìm được là tư liệu để cân nhắc, không phải kết luận. Tác giả quyết định bài viết nói điều gì, lược bỏ điều gì và mang ý nghĩa nào.

Bài viết đứng tên tác giả. Tác giả chịu trách nhiệm về những gì bài viết nói, kể cả sai sót nếu có.

Lịch Sử Hội Thánh — Phần 3: Cuộc Cải Chánh (The Reformation)

Song song

Tiếng Việt · English

Tiếng ViệtLịch Sử Hội Thánh — Phần 3: Cuộc Cải Chánh (The Reformation)

Bài giảng của Mục sư David Pawson về cuộc Cải Chánh không mở ra bằng một niên đại, mà bằng một lá thư. Ông đọc trở đi. Đó là lá thư Martin Luther yêu thích nhất, lá thư ông đã viết hẳn một bài chú giải rất hay. "Người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc của luật pháp đâu, bèn là bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ… vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc của luật pháp." Pawson nói những lời ấy đã mang một sức nặng phi thường vào thời Cải Chánh, cách nay hơn 450 năm.

Ngày 31 tháng 10 năm 1517, một tu sĩ kiêm giáo sư thần học tên Martin Luther đóng 95 Luận đề lên cánh cửa nhà thờ ở Wittenberg. Cánh cửa đó thời ấy được dùng như một bảng thông báo để mời gọi tranh luận công khai. Người ta thường coi đây là ngày mở đầu của Cuộc Cải Chánh.

Nhưng theo Pawson, có một ngày khác, gần ba năm sau, mới thật sự là cột mốc quan trọng hơn. Đó là ngày Luther đốt một đống lửa.

Martin Luther đóng đinh 95 Luận đề lên cửa nhà thờ Wittenberg (31/10/1517), khởi đầu nỗ lực cải tổ hệ thống từ bên trong.
Martin Luther đóng đinh 95 Luận đề lên cửa nhà thờ Wittenberg (31/10/1517), khởi đầu nỗ lực cải tổ hệ thống từ bên trong.Ferdinand Pauwels, năm 1872. Public domain, Wikimedia Commons.

Trong ba năm ấy, Luther đã chuyển từ chỗ muốn dọn dẹp giáo hội sang chỗ muốn phá dỡ cả hệ thống. Ban đầu, khi đóng 95 Luận đề, ông chỉ đụng tới sự lạm dụng, tức việc bán giấy ân xá, chứ không đụng tới hệ thống. Một trong các luận đề của ông viết: "Nếu Giáo hoàng biết bọn bán ân xá đang lột da con chiên của ngài thế nào, hẳn ngài thà để nhà thờ St. Peter cháy thành tro còn hơn xây nó bằng da thịt và xương cốt của bầy chiên." Luther ngây thơ tin rằng Giáo hoàng đứng về phía mình.

Ông nhanh chóng vỡ mộng, mà lại vỡ mộng bởi chính Giáo hoàng. Pawson kể: thấy tiền ân xá từ Đức chảy về giảm sút, Giáo hoàng liền dứt phép thông công Luther. Chính lúc đó Luther mới hiểu ra. Lỗi không nằm ở một vài cá nhân tồi tệ đang vận hành một hệ thống tốt. Chính bản thân hệ thống ấy đã sai.

Thế là ông đem ba thứ ném vào lửa:

  1. Sắc chỉ của Giáo hoàng (có chữ ký của ngài) đe dọa dứt phép thông công.
  2. Cuốn Giáo luật (Canon Law), bộ luật ông từng phải sống theo với tư cách một tu sĩ và linh mục.
  3. Một tài liệu ông nay đã biết là giả mạo, thứ được dùng để tuyên bố quyền của Giáo hoàng đại diện cho Đấng Christ trên đất.

Trước đó ông chỉ muốn tổng vệ sinh Hội Thánh. Ba năm sau, ông bắt đầu đập bỏ nó.

Ghi chú của Kit

Một đính chính về niên đại. Pawson đặt đống lửa vào "ngày 15 tháng 6 năm 1520", nhưng ngày ấy thật ra là ngày Giáo hoàng Leo X ban hành sắc chỉ Exsurge Domine ở Rome. Sắc chỉ này chỉ đe dọa dứt phép thông công và cho Luther 60 ngày để rút lời, chứ chưa dứt phép. Luther đốt sắc chỉ đó cùng bộ Giáo luật vào ngày 10 tháng 12 năm 1520, tại Cổng Elster ở Wittenberg, khi hạn 60 ngày kết thúc. Mãi đến ngày 3 tháng 1 năm 1521 ông mới chính thức bị dứt phép thông công qua sắc chỉ Decet Romanum Pontificem. Còn chi tiết "tài liệu giả mạo": các nguồn liệt kê những thứ bị đốt là sắc chỉ và các bộ giáo luật, chứ không chắc có một "sắc lệnh giả mạo" riêng. Dù vậy, Luther quả thật biết công trình của Lorenzo Valla (1440) vạch trần "Sắc chỉ Constantine" là đồ ngụy tạo. Luận điểm của Pawson vẫn vững; chỉ có ngày tháng và vài chi tiết là cần chỉnh lại.

Cuộc đốt lửa ngày 15/6/1520: Luther thiêu sắc chỉ dứt phép thông công của Giáo hoàng, cùng giáo luật và các sắc lệnh giả mạo, thời khắc ông quyết định phá bỏ hệ thống cũ.
Cuộc đốt lửa ngày 15/6/1520: Luther thiêu sắc chỉ dứt phép thông công của Giáo hoàng, cùng giáo luật và các sắc lệnh giả mạo, thời khắc ông quyết định phá bỏ hệ thống cũ.Karl Friedrich Lessing (hoặc nghệ sĩ cùng thời), khắc gỗ/tranh minh hoạ. Public domain, Wikimedia Commons.

Sửa Chữa hay Phá Bỏ?

Bước ngoặt trong 3 năm của Luther (1517–1520)

Lúc đầu Luther chỉ định dọn dẹp hệ thống. Ba năm sau, ông nhận ra chính hệ thống ấy là vấn đề.

📜

31 Tháng 10, 1517

95 Luận đề tại Wittenberg

  • Mục đích: Khơi mào tranh luận thần học.
  • Tấn công sự lạm dụng (bán ân xá), không phải hệ thống.
  • Tin rằng Giáo hoàng sẽ đồng ý nếu biết chuyện.

🔥

10 Tháng 12, 1520

Đốt sắc chỉ Giáo hoàng (Cổng Elster)

  • Mục đích: Cắt đứt hoàn toàn.
  • Thiêu sắc chỉ Exsurge Domine (dọa dứt phép thông công).
  • Thiêu cả bộ Giáo luật (Canon Law).
  • Nhận ra chính hệ thống đã sai.

Pawson nhận định hành động đốt lửa năm 1520 còn quan trọng hơn việc đóng luận đề năm 1517. (Lưu ý ngày tháng: sắc chỉ Exsurge Domine được ban ở Rome ngày 15/6/1520; Luther đốt nó tại Wittenberg ngày 10/12/1520; ông chính thức bị dứt phép thông công ngày 3/1/1521.)

Điều gì đã đưa một tu sĩ đến đống lửa ấy?

Muốn hiểu Luther, phải quay về nỗi kinh hoàng đã đẩy ông vào tu viện. Pawson kể: Luther từng suýt mất mạng trong một cơn giông. Chuyện đó khiến ông sợ chết, sợ phải đối diện Đức Chúa Trời khi tội lỗi chưa được tha. Và ông tuyệt vọng đi tìm một lối ra khỏi nỗi sợ ấy.

Ông cầu nguyện với các thánh, cầu nguyện với Mary, đi hành hương, chiêm ngưỡng thánh tích và ảnh tượng. Ông làm đủ cả. Vậy mà không điều nào cho ông được sự bảo đảm rằng tội mình đã được tha. Về sau, trò chuyện với bề trên khả kính của mình là von Staupitz, ông nhận một câu hỏi quyết định: "Nếu con vứt bỏ hết những cái nạng chống đỡ một đức tin lung lay, nếu con bỏ Mary, bỏ các thánh, bỏ ảnh tượng, bỏ việc đền tội và hành hương, thì con lấy gì thay vào chỗ đó?" Câu trả lời của Luther, như trong bộ phim mà hội chúng của Pawson vừa xem, chỉ vỏn vẹn một điều: "Đức Chúa Jêsus Christ. Con người chỉ cần một mình Đức Chúa Jêsus Christ."

Đó là hạt giống của tất cả những gì sắp đến.

Ghi chú của Kit

Vài chi tiết cần nói cho thật. Cơn giông ở Stotternheim (2/7/1505) và lời khấn "Thánh Anne ơi, xin cứu con, con sẽ đi tu" là có thật. Nhưng con số "Luther cầu nguyện với 21 vị thánh mỗi tuần, 3 vị mỗi ngày" mà nhiều bài giảng hay dẫn thì tôi không tìm ra nguồn học thuật nào xác nhận, nên hãy xem đó là cách nói ước lệ. Câu "cái nạng chống đỡ đức tin lung lay" cũng không tra được nguyên văn trong các tiểu sử chuẩn (Bainton, Kittelson). Còn ý chính thì hoàn toàn có thật và được ghi lại rõ: von Staupitz đã kéo Luther từ chỗ tự hành xác sang chỗ nương cậy một mình Đấng Christ. Chính Luther nói: "Nếu không có Tiến sĩ Staupitz, hẳn tôi đã chìm xuống địa ngục."

Cải chánh có phải chuyện đã chết?

Trong chính bài giảng năm 1967, nhân dịp kỷ niệm 450 năm Cải Chánh, Pawson kể hai câu chuyện đặt cạnh nhau. Có lần ông dự một buổi họp của các mục sư và tín hữu Tin Lành, lỡ miệng nhắc đến Cải Chánh, và bị nhắc thẳng thừng rằng ngày nay người Tin Lành chẳng còn thiết tha gì với Cải Chánh nữa. Đó là "lịch sử đã chết", nhắc tới là bất lịch sự. Ông ra về sau khi bị quở một trận nên thân.

Vậy mà ngay cuối tuần sau, ông lại được mời đến một chủng viện Công Giáo ở đông nam Ireland để nói chuyện với các giáo sư và giảng viên, trong đó có cả về Cải Chánh. Họ muốn nghe ông nghĩ gì, muốn thảo luận cởi mở. Ông nói: "Tôi cho rằng những vấn đề được nêu ra thời ấy vẫn còn sống, và chúng chưa được giải quyết." Họ đáp: "Đó cũng đúng là điều chúng tôi nghĩ." Ba tiếng đồng hồ trò chuyện thân tình, rồi một tách trà, rồi ông ra về.

Thật là một tình thế kỳ lạ. Ông có thể bàn về Cải Chánh với người Công Giáo, mà lại không bàn được với người Tin Lành. Câu trả lời của Pawson gói gọn thế này: Cải Chánh không hề lỗi thời. Không phải vì ta chống lại con người, dù là Công Giáo hay Tin Lành, mà vì ta chống lại những hệ thống và chủ nghĩa làm mù lòng người ta trước chân lý. Có điều, trận tuyến hôm nay được vẽ rất khác thời Luther.

Sự vĩ đại của Luther nằm ở chỗ ông đã lấy lại được Bảy Trật Tự Ưu Tiên. Bảy điều từng bị đẩy xuống hàng thứ yếu, ông đem trả về vị trí số một.

Bảy Trật Tự Ưu Tiên

Điều Luther đặt lên hàng đầu

Sự vĩ đại của Luther là ông đã đảo ngược lại những gì bị đặt sai chỗ. Bảy điều từng bị coi là thứ yếu đã được ông đưa về đúng vị trí số một.

1
Lương tâm>Thẩm quyền

Thà thuận phục Lời Chúa trong lương tâm còn hơn tuân phục mọi áp lực từ giáo hội hay nhà nước. (“Làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng lương thiện.”)

2
Chân lý>Sự hiệp nhất

Sự hiệp nhất mà không dựa trên chân lý Phúc Âm là vô nghĩa. Điều cứu con người là sự thật, không phải tổ chức.

3
Kinh Thánh>Truyền thống

Mọi truyền thống của giáo hội (cầu nguyện với thánh, luyện ngục…) đều phải được kiểm định bằng Kinh Thánh (Sola Scriptura).

4
Đức tin>Việc làm

Không phải việc làm, cũng không phải đức tin + việc làm. “Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Sola Fide). Ta được cứu KHÔNG PHẢI BỞI việc lành, mà ĐỂ LÀM việc lành.

5
Ân điển>Bí tích

Ân điển không bị đóng gói tự động trong bí tích. Nếu không có đức tin, bí tích là vô ích. Bác bỏ quan điểm “phép thuật” về báp-têm và Tiệc Thánh.

6
Tín hữu>Giáo sĩ

Chức tế lễ của mọi tín đồ. Xoá bỏ ranh giới giáo sĩ / giáo dân. Mục sư là những người có chức năng khác, không phải một giai cấp trung gian.

7
Đấng Christ>Hội Thánh

Chỉ một Linh Mục (Đấng Christ) và một Đại Diện (Đức Thánh Linh). Hội Thánh không thể thay thế Đấng Christ. Ai đặt mình vào chỗ của Christ chính là Anti-Christ (thay thế Christ).

Hãy đi qua từng ưu tiên một.

1. Lương tâm trước Thẩm quyền

Luther sống trong một thời đại gần như không có tự do lương tâm. Bảo bạn phải tin gì và sống thế nào không phải là nhà nước, mà là chính giáo hội. Muốn hình dung thế giới ấy, hãy nhớ lại thảm kịch của Galileo. Ông khám phá qua kính viễn vọng những sự thật về vũ trụ, rồi bị bảo rằng "ngươi không được tin điều đó, không được dạy điều đó."

Luther là con người dám nói: "Lương tâm tôi bị Lời Chúa cầm giữ. Làm trái lương tâm là điều không an toàn, cũng chẳng lương thiện." Tại phiên tòa Worms (1521), đứng trước hoàng đế và cả guồng máy quyền lực của giáo hội, ông vẫn không rút lời.

Và đây không phải chuyện của thời xa xưa. Ngay tuần ông giảng, có người đưa tận tay ông một mẩu báo: hơn 200 tín hữu Báp-tít bất đồng chính kiến ở Liên Xô đang ngồi tù hoặc chờ xét xử vì "vi phạm" luật tôn giáo hà khắc. Một người đã chết sau khi bị tra tấn; con cái họ bị thẩm vấn hàng giờ về đức tin của cha mẹ. Pawson nhắc: có lẽ phân nửa nhân loại vẫn đang sống dưới những nhà nước toàn trị đòi kiểm soát cả tâm trí lẫn thân thể. Cái tự do lương tâm mà chúng ta coi là đương nhiên, phần đông loài người vẫn chưa có.

Rồi Pawson nói: thế giới không bao giờ được dẫn dắt bởi những "con sứa" không xương sống, cứ trôi theo dòng nước. Nó luôn được dẫn dắt bởi những người có can đảm với xác tín của mình. Ông cảnh báo một điều rất sắc. Ngay cả những người tự nhận là "không theo khuôn" (non-conformist) ngày nay cũng lại rập khuôn theo nhau dễ đến lạ. Cái ta cần là những con người thật sự dám đứng một mình.

“Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm gì khác.” (Here I stand, I can do no other), Luther trước Tòa án Worms, đứng vững trên lương tâm và Lời Chúa trước mọi quyền lực của đế quốc và giáo hội.
“Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm gì khác.” (Here I stand, I can do no other), Luther trước Tòa án Worms, đứng vững trên lương tâm và Lời Chúa trước mọi quyền lực của đế quốc và giáo hội.Anton von Werner, năm 1877. Public domain, Wikimedia Commons.

Ghi chú của Kit

Câu nổi tiếng nhất gắn với Worms, "Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm khác. Xin Chúa giúp tôi." (Here I stand, I can do no other), gần như chắc chắn là được thêm vào sau. Nó không có trong các biên bản sớm nhất. Câu được ghi lại đáng tin là: "…tôi không thể và sẽ không rút lại điều gì, vì làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng ngay thẳng. Xin Chúa giúp con. Amen." Khí phách và tinh thần thì đúng thật; chỉ riêng vế "Đây là lập trường của tôi" mới là một sự tô điểm của đời sau.

2. Chân lý trước Sự hiệp nhất

Một trong những tội danh nặng nhất người ta gán cho Luther là: kẻ chia rẽ Hội Thánh, một tên ly giáo. Suốt gần một ngàn năm, Tây Âu chỉ có một Giáo hội duy nhất, một hệ phái duy nhất. Người ta bảo ông: hãy rút lời để giữ Hội Thánh cho nguyên vẹn; cứ tiếp tục thế này là ông sẽ làm vỡ nó.

Nhưng Luther đặt Chân Lý lên trên Hiệp Nhất. Lương tâm ông không được tự do chạy theo mọi ý thích, vì nó bị Lời Chúa cầm giữ. Ông thấy rõ một điều mấu chốt. Cái cứu con người không phải là sự hiệp nhất của Hội Thánh, mà là sự thật của Phúc Âm. Dù bạn có hợp nhất mọi giáo hội trên đất vào ngày mai, số người được cứu cũng chẳng vì thế mà tăng thêm. Cái thật sự cần là chân lý Phúc Âm được rao giảng trong các giáo hội ấy.

Pawson nói thẳng: thời chúng ta có một khẩu hiệu mà hễ không leo lên cỗ xe đó là bị ghét bỏ, ấy là "hiệp nhất". Cả một thế giới đang co lại vì giao thông, và Hội Thánh dường như bắt được tiếng vọng, cứ hô "hiệp nhất, hiệp nhất, hiệp nhất". Ông kể một chi tiết ông rất tâm đắc. Khi Hội đồng Giáo hội Anh ở Nottingham nói rằng có thể giải quyết các bất đồng từ bên trong một giáo hội đã hợp nhất, thì riêng Liên hiệp Báp-tít, đơn độc giữa các hệ phái, đã viết lại rằng không: phải giải quyết cho xong trước, rồi mới hợp nhất. Đó chính là đặt chân lý trước hiệp nhất.

3. Kinh Thánh trước Truyền thống

Pawson nêu một chi tiết gây sững sờ: Luther đã 20 tuổi mới lần đầu cầm và đọc một quyển Kinh Thánh trọn bộ. Ông được nuôi dạy sùng đạo, được chuẩn bị cho một đời sống thánh, vậy mà mãi tới năm 20 tuổi mới thấy cuốn sách ấy. Và khi đọc, ông kinh ngạc. Bao nhiêu điều ông từng được dạy là "phần cốt yếu" của đức tin và nếp sống Cơ Đốc lại không hề có trong đó. Không có chỗ nào dạy cầu nguyện với Mary hay với các thánh, không có thánh tích và ảnh tượng, không có luyện ngục, không có việc đền tội.

Ông hỏi: vậy những thứ kia từ đâu ra? Câu trả lời chính thức là: đó là Truyền Thống của Hội Thánh, và Truyền Thống cũng là Lời Chúa y như quyển sách kia. Luther đứng trước hai "Lời Chúa", một được viết ra và một được truyền miệng, rồi bị bảo phải nhận cả hai. Nhưng ông đi tới một kết luận. Chỉ cuốn sách kia mới là chân lý, và mọi truyền thống của mọi giáo hội đều phải đem đến hòn đá thử là Kinh Thánh mà xét nghiệm. Làm thế rồi, ông bắt đầu ném bỏ truyền thống.

Pawson thẳng thắn thừa nhận rằng ngay chính hội thánh của ông cũng có những truyền thống phi Kinh Thánh, và tất cả đều phải quy phục Lời Chúa. Ông kể về một người bạn (tên theo băng ghi âm nghe như "Eduardo Lubinque", một cái tên tôi không tra được trong nguồn độc lập, rất có thể do phiên âm sai), nguyên là giáo sư Tân Ước dạy các linh mục dòng Tên tinh tuyển ở Rome. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, ông càng không thể tiếp tục dạy học trò rằng những điều không có trong sách này lại là "Lời Chúa". Thế là ông tự dạy mình ra khỏi cái ghế đó, y như Luther 450 năm trước cũng vốn là một giáo sư thần học. Chính cuốn sách này đã làm điều ấy.

Erasmus của Rotterdam, học giả đã in lại Tân Ước Hy Lạp (1516), đặt chữ “ăn năn” vào chỗ chữ “đền tội”, mở đường cho Cải Chánh.
Erasmus của Rotterdam, học giả đã in lại Tân Ước Hy Lạp (1516), đặt chữ “ăn năn” vào chỗ chữ “đền tội”, mở đường cho Cải Chánh.Hans Holbein Trẻ, năm 1523. Public domain, Wikimedia Commons.

Ghi chú của Kit

Một mảnh ghép Pawson không nhấn mạnh nhưng rất quan trọng: Erasmus của Rotterdam. Năm 1516, học giả này in bản Tân Ước Hy Lạp (Novum Instrumentum), chính là bản văn nền mà Luther dùng để dịch Tân Ước sang tiếng Đức. Chỗ bản Latin cũ dịch là "hãy làm việc đền tội" (do penance), Erasmus dịch lại cho đúng nghĩa Hy Lạp là "hãy ăn năn" (repent). Một thay đổi nhỏ mà lật đổ cả nền tảng của hệ thống đền tội. Người ta nói "Erasmus đẻ trứng, Luther ấp nở", dù chính Erasmus phủ nhận và về sau còn tranh luận gay gắt với Luther về ý chí tự do (1524–25). Ông muốn cải cách từ bên trong, chứ không muốn ly khai.

4. Đức tin trước Việc làm (Sola Fide)

Đây là câu hỏi lớn nhất một đời người có thể hỏi, và với Luther nó là chuyện sinh tử: Làm sao tôi được làm hòa với Đức Chúa Trời? Làm sao tội tôi được tha? Cơn giông năm xưa đã khiến ông sợ chết khi tội chưa được tha, nên đây không phải chuyện lý thuyết.

Khi John Tetzel đi rao bán ân xá, Luther chắc chắn đó không phải là con đường. Bạn không thể mua sự tha thứ. Rồi ông tiến thêm một bước: nếu không mua được, thì cũng không kiếm được bằng công đức. Pawson chỉ ra ba câu trả lời cho câu hỏi làm sao lên thiên đàng, và mọi tôn giáo đều rơi vào một trong ba:

  • Thế gian nói: hãy làm việc lành.
  • Giáo hội thời đó nói: phải có đức tin cộng việc lành.
  • Luther nói: chỉ cần một điều, ấy là tin.

Bản tuyên ngôn của Cải Chánh, đi từ Cựu Ước qua Tân Ước rồi đến Luther, là: "Người công bình sẽ sống bởi đức tin." Không phải bởi việc lành, cũng không phải bởi đức tin pha việc lành, mà bởi đức tin, chấm hết. Chữ Latin sola fide (chỉ bởi đức tin) trở thành ngọn cờ lớn của Cải Chánh.

Vậy thì việc lành có vai trò gì? Luther tóm tắt tuyệt hay, và Pawson nói không thể diễn đạt hay hơn: Chúng ta được cứu KHÔNG PHẢI BỞI việc lành, mà là ĐỂ LÀM việc lành. Bạn không làm việc lành để kiếm tấm vé lên trời; bạn làm việc lành bạn đang đi lên trời rồi.

Năm chữ “Chỉ”

Năm khẩu hiệu cô đọng của Cải Chánh

Bảy ưu tiên của Luther về sau được cô lại thành năm chữ La-tinh “sola / solus” (chỉ, duy nhất). Cần thành thật: gói “năm solas” như một danh sách thống nhất là cách hệ thống hoá của đời sau (thế kỷ 19–20), không phải khẩu hiệu có sẵn từ thế kỷ 16, nhưng từng ý thì đều bắt rễ trong chính các nhà cải chánh.

Sola Scriptura · Chỉ Kinh Thánh

Chỉ Kinh Thánh là thẩm quyền tối cao và không sai lầm cho đức tin.

Phản biện: Công Giáo và Chính Thống: Kinh Thánh không thể tách khỏi Truyền Thống của Hội Thánh đã sản sinh ra nó.

Sola Fide · Chỉ bởi đức tin

Con người được xưng công bình chỉ bởi đức tin, không bởi công đức.

Phản biện: Trent (1547): đức tin “sống” phải kèm việc lành; kết án “đức tin đơn thuần không cần gì thêm”.

Sola Gratia · Chỉ bởi ân điển

Sự cứu rỗi hoàn toàn là ơn Chúa ban, không do công đức con người.

Phản biện: Điểm đồng thuận lớn nhất: ngay cả Trent (Khoá VI, 1547) cũng dạy ân điển là bước khởi đầu Chúa ban không do công đức; được xác nhận lại tại JDDJ 1999.

Solus Christus · Chỉ một mình Christ

Chỉ Đấng Christ là Đấng Trung Bảo duy nhất giữa Chúa và loài người.

Phản biện: Tranh luận: vai trò trung gian của Hội Thánh, các thánh và Mary trong truyền thống Công Giáo/Chính Thống.

Soli Deo Gloria · Chỉ vinh hiển Chúa

Mọi vinh hiển thuộc về một mình Đức Chúa Trời.

Phản biện: Ít gây tranh cãi, nhưng làm nền cho việc bác bỏ sự tôn kính thái quá dành cho con người/định chế.

5. Ân điển trước Bí tích

Luther được nuôi dạy để tin rằng ân điển được gói gọn trong bảy bí tích (Pawson nói con số ấy từng lên tới mười bốn, rồi rút dần xuống bảy), và rằng chúng vận hành tự động như phép thuật, bất kể ai làm hay ai nhận. Nước báp-têm tự động cứu một đứa trẻ chưa biết gì. Bánh và rượu, đến một thời điểm nhất định trong buổi lễ, tự động biến thành thân thể và huyết thật của Chúa, rồi được một thầy tế lễ dâng lên như một của lễ, không phải trên một cái bàn mà trên một bàn thờ.

Luther suy nghĩ thấu đáo rồi nói: tôi biết mình cần ân điển của Chúa, nhưng trong cuốn sách này không có chỗ nào bảo rằng ân điển ấy bị gói trong các bí tích vận hành tự động. Ông nhận ra: không có đức tin, bí tích chẳng ích gì. "Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu", chứ không phải nhờ bí tích. Ân điển không bị đóng gói; nó tuôn chảy như một dòng sông. Người tín hữu giản dị nhất, dù chưa từng chịu báp-têm hay dự Tiệc Thánh, mà có đức tin, thì vẫn biết ân điển của Chúa. Pawson dẫn ví dụ những người bạn trong Đội Quân Cứu Thế (Salvation Army). Họ không có bí tích nào, nhưng rõ ràng có ân điển; họ hát về nó suốt.

Về hai bí tích mà Luther giữ lại (báp-têm và Tiệc Thánh), Pawson thành thật thừa nhận một điều mà ngay cả bạn thân của Luther cũng phải nhìn nhận: ông chưa bao giờ suy nghĩ vấn đề này đến tận cùng logic của nó, và có phần lúng túng ở cả hai. Điều ông làm đúng là đặt lại thứ tự: ân điển trước, bí tích sau.

6. Tín hữu trước Giáo sĩ (Chức tế lễ của mọi tín đồ)

Nhà thờ mà Luther sinh ra là một kim tự tháp quyền lực. Trên đỉnh là Giáo hoàng, rồi xuống dần đến các Hồng y, Giám mục, các dòng tu, cho tới linh mục xứ. Và tít dưới đáy là giáo dân. Ranh giới giữa "giáo sĩ" và "giáo dân" rạch ròi tới mức ngay cả trang phục và chỗ đứng trong nhà thờ cũng khác nhau: một đầu mặc áo lễ, một đầu mặc thường phục.

Pawson kể lại cách Luther nhìn vào cái tháp ấy rồi hỏi từ trên xuống. Có nền tảng Kinh Thánh nào cho một người ngồi trên đỉnh như thế không? Không. Cho các giám mục? Không. Cho các linh mục trung gian? Không. Rồi ông đi đến một sự tái khám phá kỳ diệu: Chức tế lễ của mọi tín đồ. Ông biến mọi giáo dân thành thầy tế lễ và mọi thầy tế lễ thành giáo dân, vì thấy giữa họ chẳng có sự phân chia nào. Có khác biệt về chức năng, đúng vậy, giống như các bộ phận khác nhau trong một thân thể. Nên ông gọi họ là "người phục vụ" (ministers), chứ không phải "thầy tế lễ" (priests). Mọi tín đồ đều là thầy tế lễ.

Đó là lý do ông cất công dịch Kinh Thánh sang thứ tiếng Đức bình dân, để trao nó cho người dân thay vì cho giới linh mục. Như ông nói, một cô hầu gái cầm chổi quét nhà cũng có thể hiểu Lời Chúa hơn cả một linh mục. Pawson nhắc rằng hai phần ba số người xưng mình là Cơ Đốc nhân trên thế giới ngày nay vẫn sống dưới chế độ giáo phẩm và kiểm soát theo thứ bậc, nên lời phản kháng này vẫn còn cần thiết.

Chức Tế Lễ Của Mọi Tín Đồ

Phá bỏ kim tự tháp quyền lực

Nhà thờ Trung Cổ là một kim tự tháp: giáo dân ở đáy, giáo hoàng ở đỉnh. Luther tuyên bố: Không có giai cấp trung gian. Tất cả đều là thầy tế lễ.

Cấu trúc trước Cải Chánh

Giáo HoàngHồng Y · Giám Mục · Linh MụcGiáo Dân (Người thường)

Lý tưởng của Cải Chánh

Đấng Christ(Đại diện: Thánh Linh)Toàn Thể Hội Thánh(Mọi người đều là Thầy Tế Lễ)
Trang tựa cuốn Kinh Thánh trọn bộ bằng tiếng Đức của Luther, in năm 1534 tại Wittenberg, lần đầu tiên người dân thường có thể đọc Lời Chúa bằng ngôn ngữ của mình.
Trang tựa cuốn Kinh Thánh trọn bộ bằng tiếng Đức của Luther, in năm 1534 tại Wittenberg, lần đầu tiên người dân thường có thể đọc Lời Chúa bằng ngôn ngữ của mình.Xưởng in Hans Lufft, Wittenberg, 1534. Public domain, Wikimedia Commons.

Ghi chú của Kit

Câu "cô hầu gái cầm chổi" là một lối nói dân gian gắn với Luther, chứ không phải nguyên văn có thể tra được của ông. Hình ảnh "người cày ruộng thuộc Kinh Thánh hơn giáo sĩ" thật ra gắn với William Tyndale ở Anh (và vọng lại lời tựa Tân Ước của Erasmus). Điều chắc chắn và quan trọng hơn nhiều là: Luther thật sự đã dịch Kinh Thánh cho người bình dân. Tân Ước tiếng Đức ra năm 1522 (dịch trong chừng 11 tuần khi ông ẩn ở lâu đài Wartburg), trọn bộ Kinh Thánh ra năm 1534, rồi máy in Gutenberg nhân nó ra cho cả một dân tộc. Đó mới là kỳ tích thật, chẳng cần một câu trích tô điểm.

7. Đấng Christ trước Hội Thánh

Đây là đỉnh điểm. Pawson kể rằng khi ông hỏi vị giáo sư lịch sử giáo hội ở chủng viện Công Giáo kia đâu là vấn đề lớn nhất của Cải Chánh, hai người đã đồng ý với nhau. Vấn đề lớn nhất là: Luther thách thức chính ý niệm rằng Đấng Christ và Hội Thánh là một, rằng Hội Thánh có thể làm cho con người điều mà chỉ một mình Đấng Christ mới làm được. Thân thể, tức Hội Thánh, đang chiếm chỗ của Đầu, tức Đấng Christ.

Pawson triển khai qua ba vai trò:

  • Tôi cần một tiên tri để dạy tôi chân lý không sai lầm của Chúa. Ai là tiên tri của tôi? Rome nói: là thân thể, tức Hội Thánh không sai lầm. Luther nói: là Đầu.
  • Tôi cần một thầy tế lễ để đến với Chúa. Ai là thầy tế lễ của tôi? Rome nói: là thân thể, hãy xưng tội với Hội Thánh. Luther nói: là Đấng Christ trên trời, và bạn có thể đến với Chúa bất cứ lúc nào qua Ngài.
  • Tôi cần một vị vua để cai trị tôi. Ai là vua của tôi? Rome nói: là thân thể ở dưới đất. Luther nói: là Đầu tôi ở trên trời.

Vì thế Luther dám gọi chế độ Giáo hoàng là "Anti-Christ". Pawson giải thích cẩn thận: ông không có ý nói Giáo hoàng chống lại Đấng Christ. Theo nghĩa gốc, "anti" nghĩa là thay thế cho, đứng vào chỗ của. Ai đặt mình vào chỗ của Đấng Christ thì là anti-christ. Rome nói với người ta rằng muốn đến với Chúa phải qua chúng tôi, và như thế là đặt mình vào chỗ của Ngài.

Rồi Rome phản công bằng một luận điểm quan trọng. Khi Đầu ở trên trời mà người dưới đất muốn đến, chẳng phải họ phải đi qua thân thể sao? Vậy Giáo hoàng chẳng phải là đại diện (vicar) của Đấng Christ ở trần gian, người đứng thay chỗ Ngài để truyền đạt điều Ngài dạy sao? Luther suy đi rồi đáp: đúng, Đấng Christ phải có một đại diện trên đất để nói thay Ngài, nhưng đại diện đó là Đức Thánh Linh, chứ không phải Giáo hoàng. Tóm lại: "Không thầy tế lễ nào ngoài Đấng Christ, không đại diện nào ngoài Đức Thánh Linh."

Pawson kết lại rất thực tế. Chính vì lẽ đó mà quanh tường nhà thờ Báp-tít của ông chẳng có một tòa giải tội nào. "Tôi không thể tha tội cho bạn, hội thánh Gold Hill này cũng không thể. Nếu bạn có tội cần xưng, hãy đến thẳng vị Linh Mục ở trên trời, là chính Đấng Christ."

Chân dung Martin Luther, người đã đưa Lời Chúa trở lại tay người bình dân bằng tiếng Đức và khẳng định: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”
Chân dung Martin Luther, người đã đưa Lời Chúa trở lại tay người bình dân bằng tiếng Đức và khẳng định: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”Lucas Cranach Trẻ (hoặc Lớn), năm 1529. Public domain, Wikimedia Commons.

Ghi chú của Kit

Về nguyên ngữ: giải thích "anti = thay thế" là một nghĩa hợp lệ của tiền tố Hy Lạp anti-, nhưng phần lớn từ điển chuẩn coi nghĩa gốc và chính của "antichrist" là "chống lại, đối nghịch". Cả hai nét nghĩa đều tồn tại trong tiếng Hy Lạp tùy ngữ cảnh, và Luther nhấn vào nét "kẻ chiếm chỗ Đấng Christ". Nói đây là nghĩa duy nhất đúng (và "chống lại" là sai) thì hơi quá. Đúng hơn nên hiểu rằng Luther khai thác một nét nghĩa vốn có sẵn, để gọi tên điều ông thấy: một định chế đặt mình vào chỗ đáng lẽ chỉ thuộc về một mình Đấng Christ.

Ngọn lửa vượt khỏi tay Luther

Pawson giảng chủ yếu về Luther, vì Luther là người châm ngòi. Nhưng ngọn lửa nhanh chóng vượt khỏi tay ông. Chỉ trong một thế hệ, Cải Chánh đã tách ra thành nhiều dòng, mỗi dòng một thành phố, một nhà lãnh đạo, một điểm nhấn riêng. Có dòng hợp tác với nhau, có dòng cãi nhau gay gắt tới mức không bao giờ hàn gắn. Nếu chỉ nghe về một mình Luther, ta sẽ tưởng Cải Chánh là một khối thống nhất. Nó không phải vậy.

Không Chỉ Một Người

Những gương mặt khác của Cải Chánh

Pawson giảng chủ yếu về Luther, vì Luther là người châm ngòi. Nhưng ngọn lửa nhanh chóng vượt khỏi tay ông. Trong vòng một thế hệ, Cải Chánh đã tách thành nhiều dòng, mỗi dòng một thành phố, một nhà lãnh đạo, một nhấn mạnh riêng.

Huldrych Zwingli

Huldrych Zwingli

1484–1531 · Zurich · Cải Cách

Nhà cải chánh Thuỵ Sĩ, độc lập với Luther. Tiệc Thánh chỉ là biểu tượng tưởng niệm. Tử trận tại Kappel.

John Calvin

John Calvin

1509–1564 · Geneva · Cải Cách

Người Pháp hệ thống hoá thần học Tin Lành trong bộ “Yếu Chỉ”. Nhấn mạnh chủ quyền tối cao và tiền định của Chúa.

Philipp Melanchthon

Philipp Melanchthon

1497–1560 · Wittenberg · Luther

Cộng sự điềm tĩnh của Luther, tác giả chính Tín Điều Augsburg (1530).

Thomas Cranmer

Thomas Cranmer

1489–1556 · Canterbury · Anh Giáo

Tổng Giám mục Canterbury, soạn Sách Kinh Nguyện Chung. Bị thiêu sống năm 1556.

John Knox

John Knox

c.1514–1572 · Edinburgh · Trưởng Lão

Học trò của Calvin, đem phong trào Trưởng Lão về Scotland.

Menno Simons

Menno Simons

1496–1561 · Hà Lan / Friesland · Anabaptist

Cựu linh mục, đem lại cho phong trào Tái Rửa một căn tính ôn hoà, bất bạo động. Phái Mennonite mang tên ông.

Jacobus Arminius

Jacobus Arminius

1560–1609 · Leiden · Hà Lan

Thách thức thuyết tiền định vô điều kiện của Calvin; khơi mào cuộc tranh luận dẫn tới Công đồng Dort.

Chân dung: tất cả public domain (Wikimedia Commons). Knox và Menno Simons là tranh khắc đời sau vì không còn chân dung đương thời.

Zwingli và cuộc chia rẽ về Tiệc Thánh. Ở Zurich, Huldrych Zwingli dẫn dắt một cuộc cải cách độc lập với Luther. Hai người đồng ý với nhau gần như mọi thứ, chỉ vấp một câu hỏi: điều gì xảy ra với bánh và rượu trong Tiệc Thánh? Tại Hội nghị Marburg (1529), họ thống nhất được 14 trên 15 điều khoản, rồi kẹt cứng ở điều cuối. Luther bám chặt vào chữ "LÀ" trong câu "Đây thân thể ta". Ông lấy phấn viết câu Hoc est corpus meum ("Đây LÀ thân thể ta") lên bàn và nhất quyết không nhượng bộ. Zwingli thì cho rằng đó chỉ là biểu tượng tưởng niệm. Họ không bắt tay nhau. Mặt trận Tin Lành thống nhất tan vỡ ngay từ đó. Đây là một minh họa đau đớn cho chính nguyên tắc "chân lý trước hiệp nhất", cho thấy ranh giới giữa việc bảo vệ chân lý và việc chia rẽ Hội Thánh mong manh đến nhường nào.

Calvin và Geneva. Một thế hệ sau, John Calvin, một người Pháp, hệ thống hóa toàn bộ thần học Tin Lành trong bộ Cơ Đốc Giáo Yếu Chỉ (Institutes), và biến Geneva thành một "trường học của Đấng Christ" mà cả Châu Âu gửi người đến học. Ông nhấn mạnh chủ quyền tối cao tuyệt đối của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi.

“Đây là thân thể ta”

Bốn cách hiểu Tiệc Thánh và sự chia rẽ tại Marburg

Không gì chia rẽ những người Tin Lành với nhau (và với Rome) sâu bằng một câu hỏi: điều gì xảy ra với bánh và rượu? Tại Hội nghị Marburg (1529), Luther và Zwingli đồng ý 14 trên 15 điều, nhưng vấp đúng câu này. Luther lấy phấn viết “Hoc est corpus meum” (“Đây LÀ thân thể ta”) lên bàn và không nhượng bộ. Mặt trận Tin Lành thống nhất tan vỡ ngay từ đó.

Công Giáo

Rome / Trent

Biến thể (Transubstantiation)

Bản thể bánh và rượu thực sự biến thành thân và huyết Đấng Christ; chỉ còn lại hình dạng bên ngoài.

Luther

Wittenberg

Hiện diện thật (“trong, với, dưới”)

Thân thể Christ hiện diện thật sự “trong, với và dưới” bánh và rượu, nhưng bánh vẫn là bánh. (Luther bác từ “consubstantiation”.)

Calvin

Geneva

Hiện diện thiêng liêng (bởi Thánh Linh)

Tín hữu thật sự nhận lãnh Đấng Christ, nhưng bởi đức tin và qua Thánh Linh nâng lòng họ lên với Christ đang ngự trên trời.

Zwingli

Zurich

Biểu tượng / Tưởng niệm

Bánh và rượu chỉ là dấu hiệu tưởng niệm. “Đây LÀ thân thể ta” nghĩa là “đây TƯỢNG TRƯNG cho thân thể ta”.

Từ trái (hiện diện thể chất nhất) sang phải (biểu tượng thuần tuý). Sự bất đồng này khiến phái Luther và phái Cải Cách không bao giờ hợp nhất trọn vẹn.

Hội nghị Marburg, 1529: Luther chỉ tay vào dòng chữ “Est” (“This IS my body”, Đây LÀ thân thể ta) mà ông viết bằng phấn trên bàn, đối diện Zwingli. Họ đồng ý 14/15 điều, nhưng chia rẽ vĩnh viễn ở điều cuối cùng về Tiệc Thánh.
Hội nghị Marburg, 1529: Luther chỉ tay vào dòng chữ “Est” (“This IS my body”, Đây LÀ thân thể ta) mà ông viết bằng phấn trên bàn, đối diện Zwingli. Họ đồng ý 14/15 điều, nhưng chia rẽ vĩnh viễn ở điều cuối cùng về Tiệc Thánh.August Noack, năm 1867 (chi tiết). Public domain, Wikimedia Commons.

Những người "cấp tiến" và cái giá của họ. Rồi có những người thấy cả Luther lẫn Zwingli vẫn chưa đi đủ xa. Nếu chỉ Kinh Thánh mới là thẩm quyền, họ hỏi, thì đâu là chỗ trong Tân Ước cho việc rửa tội cho trẻ sơ sinh? Tháng 1 năm 1525 tại Zurich, lần đầu tiên họ làm báp-têm cho người lớn đã tin, nên bị gọi là Anabaptist, tức người tái rửa. Họ chủ trương một Hội Thánh của những người tự nguyện tin, tách khỏi nhà nước, không cầm gươm, không thề nguyện. Về sau Menno Simons đem lại cho phong trào tan vỡ này một căn tính ôn hòa, bất bạo động, và tên "Mennonite" ra đời từ đó.

Cái giá họ phải trả thật khủng khiếp, mà lại do cả hai phía trút xuống. Cùng thời ấy, "Chiến tranh Nông dân" (1524–25) bùng nổ khi nông dân Đức dùng chính khẩu hiệu "chức tế lễ của mọi tín đồ" và "chỉ Kinh Thánh" để đòi quyền lợi. Đó là cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định, và ông đã phản ứng dữ dội, đứng hẳn về phía giới quý tộc.

Trang tựa “Mười Hai Điều Khoản” (1525), bản tuyên ngôn của nông dân Đức, viện dẫn “chức tế lễ của mọi tín đồ” và “chỉ Kinh Thánh” để đòi quyền lợi, một cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định.
Trang tựa “Mười Hai Điều Khoản” (1525), bản tuyên ngôn của nông dân Đức, viện dẫn “chức tế lễ của mọi tín đồ” và “chỉ Kinh Thánh” để đòi quyền lợi, một cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định.In khuyết danh, năm 1525. Public domain, Wikimedia Commons.

Ghi chú của Kit

Đây là một trong những sự thật đau lòng mà một bài viết trung thực không nên giấu. Người Anabaptist bị bách hại bởi cả Công Giáo lẫn các nhà Cải Chánh chính dòng. Ngay tại Zurich của Zwingli, việc tái rửa bị coi là trọng tội, và Felix Manz bị dìm chết trong sông Limmat ngày 5/1/1527, "người tử đạo Tin Lành đầu tiên chết dưới tay những người Tin Lành khác". Kiểu hành hình bằng cách dìm nước là một sự nhạo báng có tính toán nhắm vào "phép tái rửa". Còn về Chiến tranh Nông dân, Luther viết bài "Chống Bọn Nông Dân Cướp Bóc, Giết Người" (1525), giục các lãnh chúa "đâm, chém, giết" quân nổi loạn như giết chó dại; ước tính khoảng 100.000 nông dân đã chết. Geneva của Calvin cũng có vết nhơ riêng: nhà thần học phản Ba Ngôi Michael Servetus bị thiêu sống năm 1553 với sự tán thành của Calvin (ông chỉ xin đổi sang án chém cho "nhân đạo" hơn, nhưng bị từ chối). Và phải kể nốt vết nhơ nặng nhất. Cuối đời, Luther viết cuốn Về Người Do Thái Và Những Lời Dối Trá Của Họ (1543), kêu gọi đốt các hội đường Do Thái. Đó là một di sản độc hại về sau bị Đức Quốc Xã lợi dụng, và chính các giáo hội Lutheran ngày nay đã công khai bác bỏ. Các nhà cải chánh là những con người có thật, với những vết nhơ có thật, trong một thời đại bạo lực.

Calvin, Arminius, và cuộc chiến về tiền định. Một thế hệ nữa trôi qua, và chính nội bộ phái Cải Cách lại nứt ra vì một câu hỏi nhức nhối: trong sự cứu rỗi, Đức Chúa Trời làm tất cả (Chúa chọn ai thì người ấy được cứu), hay con người có phần cộng tác bằng đức tin tự do của mình? Nhà thần học Hà Lan Jacobus Arminius thách thức thuyết tiền định vô điều kiện của Calvin. Sau khi ông mất, các môn đệ soạn bản Kháng Nghị (Remonstrance) năm 1610 gồm năm điểm. Công đồng Dort (1618–19) nhóm lại, kết án phe Arminius, và định hình "Năm Điểm của Calvin", về sau được nhớ qua từ khóa TULIP.

Ai chọn ai?

Calvin và Arminius: Tiền định vs Tự do ý chí

Một thế hệ sau Luther, chính nội bộ Tin Lành nứt ra vì một câu hỏi nhức nhối: trong sự cứu rỗi, Chúa làm tất cả (monergism) hay Chúa và con người cùng cộng tác (synergism)? Công đồng Dort (1618–19) kết án phe Arminius và định hình “5 điểm Calvin”, về sau được nhớ qua từ khoá TULIP (một từ viết tắt của thế kỷ 20).

Calvin (Dort · TULIP)Arminius (Remonstrance)

Sự lựa chọn

Vô điều kiện, Chúa chọn theo ý muốn tối cao của Ngài.Có điều kiện, Chúa chọn những ai Ngài biết trước sẽ tin.

Sự chuộc tội

Giới hạn, Christ chết cách hữu hiệu cho riêng người được chọn.Phổ quát, Christ chết cho mọi người, chỉ hữu hiệu cho ai tin.

Bản chất con người

Bại hoại toàn diện, không thể tự đến với Chúa.Bất lực nếu không có ân điển, cần ân điển mới tin được.

Ân điển

Không thể cưỡng lại, ân điển của Chúa chắc chắn thành công.Có thể cưỡng lại, con người có thể chối từ ân điển.

Sự bền đỗ

Người được chọn chắc chắn bền đỗ đến cùng.Bỏ ngỏ, cần nghiên cứu thêm (về sau: có thể sa ngã).

TULIP = Total depravity · Unconditional election · Limited atonement · Irresistible grace · Perseverance. Bản “Kháng Nghị” (Remonstrance, 1610) của phe Arminius có đúng 5 điểm đối lại.

Một thế kỷ bùng cháy

Cải Chánh lan ra thế nào (1517–1619)

Từ một tu sĩ ở một thị trấn Đức, trong một thế kỷ ngọn lửa đã lan tới Thuỵ Sĩ, Anh, Scotland, Hà Lan và buộc chính Rome phải tự cải tổ.

1517Luther đóng 95 Luận đề tại Wittenberg.
1523Zwingli công bố 67 Điều Khoản; Zurich cải cách.
1525Anabaptist đầu tiên làm báp-têm người lớn tại Zurich. Chiến tranh Nông dân (1524–25) lên đến đỉnh điểm.
1529Hội nghị Marburg: Luther và Zwingli chia rẽ về Tiệc Thánh.
1530Tín Điều Augsburg, văn kiện nền tảng phái Luther.
1534Henry VIII ly khai Rome; Giáo hội Anh ra đời. Kinh Thánh Đức trọn bộ của Luther.
1536Calvin xuất bản “Yếu Chỉ”; bắt đầu công cuộc ở Geneva.
1540Dòng Tên (Jesuits) được phê chuẩn, mũi nhọn phản Cải Chánh.
1545–63Công đồng Trent, Công Giáo định tín chống lại Cải Chánh.
1555Hoà ước Augsburg: “cuius regio, eius religio”, vua theo đạo nào, dân theo đạo ấy.
1560Knox đưa Cải Chánh Trưởng Lão về Scotland.
1618–19Công đồng Dort kết án phái Arminius; định hình 5 điểm Calvin.

Hai chiếc ghế còn lại: Rome và Constantinople

Pawson giảng từ chiếc ghế Tin Lành, rất mạnh mẽ và rõ ràng. Nhưng ngay chính ông cũng nói rằng những vấn đề của Cải Chánh "vẫn còn sống và chưa được giải quyết". Và cách tốt nhất để nghe cho đủ là kéo hai chiếc ghế còn lại đến ngồi cạnh.

Rome đáp lời: Công đồng Trent. Phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo là Công đồng Trent (1545–1563). Cần công bằng ở đây, vì người Tin Lành hay biếm họa Trent thành "đạo lập công". Thật ra Trent dạy rằng ân điển là bước khởi đầu Chúa ban không do công đức ("nếu bởi ân điển thì không còn bởi việc làm nữa"), nhưng con người phải cộng tác tự do với ân điển ấy, và đức tin phải là đức tin sống, kết hợp với đức ái và việc lành. Trent kết án sola fide theo nghĩa "chỉ đức tin, không cần gì thêm". Trent khẳng định Kinh Thánh cùng Truyền Thống (với "lòng tôn kính ngang nhau"), bảy bí tích, và thuyết biến thể. Về ân xá, thứ đã châm ngòi cho Luther, Trent không bãi bỏ ân xá, mà bãi bỏ việc mua bán ân xá bằng tiền, đúng cái mà 95 Luận đề nhắm tới. Mũi nhọn của cuộc chấn hưng này là Dòng Tên (Jesuits) của Ignatius de Loyola, được phê chuẩn năm 1540.

Câu chuyện chưa dừng ở thế kỷ 16. Năm 1999, Tuyên ngôn chung về Giáo lý Xưng Công Bình (JDDJ) giữa Công Giáo và Liên hiệp Lutheran Thế giới tuyên bố hai bên đạt được đồng thuận về những chân lý căn bản: "bởi ân điển… trong đức tin nơi công trình cứu chuộc của Đấng Christ, chứ không do công trạng nào của chúng ta, chúng ta được Chúa chấp nhận." Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 6 năm 2016, Giáo hoàng Francis nhận định "ý định của Luther không sai"; ông là "một nhà cải cách", dù "một số phương pháp có thể không đúng". Cuối năm ấy, ngày 31/10/2016, Francis cùng Liên hiệp Lutheran Thế giới đồng chủ trì lễ tưởng niệm chung 500 năm Cải Chánh tại Lund, Thụy Điển.

Công đồng Trent (1545–1563), phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo trước Cải Chánh: tái khẳng định Kinh Thánh CÙNG Truyền Thống, sự xưng công bình qua ân điển và cộng tác, bảy bí tích và thuyết biến thể.
Công đồng Trent (1545–1563), phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo trước Cải Chánh: tái khẳng định Kinh Thánh CÙNG Truyền Thống, sự xưng công bình qua ân điển và cộng tác, bảy bí tích và thuyết biến thể.Elia Naurizio, năm 1633 (Bảo tàng Buonconsiglio, Trento). Public domain, Wikimedia Commons.

Constantinople đáp lời: một sự im lặng dứt khoát. Chiếc ghế thứ ba là Chính Thống Giáo Đông phương, thường bị cả Tin Lành lẫn Công Giáo bỏ quên. Trong khoảng 1573–1581, các nhà thần học Lutheran ở Tübingen gửi bản Tín Điều Augsburg (dịch sang tiếng Hy Lạp) cho Thượng phụ Jeremiah II của Constantinople, hy vọng tìm được điểm chung. Ngài trả lời bằng ba lá thư, lần lượt bác bỏ những điểm cốt lõi của Tin Lành. Ngài bác sola fide ("Hội Thánh đòi một đức tin sống, được tỏ ra bằng việc lành") và bác sola scriptura (không được giải nghĩa Kinh Thánh tách khỏi các Giáo Phụ), rồi lịch sự chấm dứt trao đổi.

Với Chính Thống Giáo, sự cứu rỗi không phải là một phán quyết pháp lý (được tuyên là công bình), mà là Theosis, tức sự thần hóa, một tiến trình tham dự thật sự vào sự sống của Đức Chúa Trời. Đây là synergy, tức sự cộng tác: "Chúa không cứu một người trái với ý muốn của người ấy." Vì thế Chính Thống Giáo coi chính cuộc tranh cãi "đức tin đối lại việc làm" là một cách đặt vấn đề mang tính pháp lý của phương Tây mà họ chưa bao giờ chấp nhận. Về sau, khi một Thượng phụ (Cyril Lucaris) soạn một bản tuyên tín nghiêng hẳn về Calvin, chính Chính Thống Giáo đã kết án nó tại Công đồng Jerusalem (1672). Nói cách khác, Chính Thống Giáo đã chính thức từ chối cả Luther lẫn Calvin.

Ba Chiếc Ghế

Cuộc tranh luận có ba phía, không phải hai

Pawson giảng từ ghế Tin Lành. Nhưng để nghe đủ các bề, cần đặt cạnh nó hai chiếc ghế còn lại. Điều bất ngờ: cả ba đều dạy rằng ân điển là điều cần thiết và không do công đức mà có, nên bức biếm hoạ “Tin Lành tin ân điển, Công Giáo/Chính Thống tin lập công” là sai với cả ba. Lằn ranh thật nằm ở thẩm quyền và ở cách hiểu sự xưng công bình.

Tin Lành (Cải Chánh)Công Giáo (Rome)Chính Thống Giáo (Đông phương)
Thẩm quyềnChỉ Kinh Thánh (Sola Scriptura) đứng trên mọi truyền thống.Kinh Thánh VÀ Truyền Thống Tông Đồ, “với lòng tôn kính ngang nhau” (Trent, 1546).Kinh Thánh nằm TRONG Truyền Thống Thánh; Hội Thánh sinh ra và công nhận Kinh Thánh.
Sự xưng công bìnhPháp lý, được TUYÊN là công bình, sự công bình của Christ được kể cho ta (imputed).Ân điển thật sự BIẾN ĐỔI ta; đức tin kết hợp với đức ái và việc lành (Trent, 1547).Theosis (thần hoá), tham dự vào sự sống của Chúa; đức tin và việc làm hoà quyện.
Ân điển và con ngườiĐơn tác (monergism), chỉ Chúa cứu; con người thụ động nhận lãnh.Ân điển khởi đầu, không do công đức, rồi con người mới cộng tác tự do.Synergy (cộng tác), “Chúa không cứu ai trái với ý muốn của người ấy.”
Điểm đồng thuậnÂn điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có.Ân điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có (JDDJ, 1999).Ân điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có.

Chính Thống Giáo đã chính thức từ chối CẢ Luther (thư từ với Thượng phụ Jeremiah II, 1573–81) LẪN Calvin (Công đồng Jerusalem, 1672).

Vậy thì, tại sao còn phải chiến đấu?

Đến đây nhiều người sẽ hỏi câu mà chính Pawson đặt ra ở cuối bài giảng. Tại sao còn phải đào xới những chuyện giáo lý này lên? Tại sao không thỏa hiệp để đổi lấy hòa bình và hiệp nhất, khi ai cũng thân thiện và cùng tôn thờ một Chúa? Chẳng phải đây chỉ là chuyện cãi vã tủn mủn về giáo lý, là quay về thời tăm tối hay sao?

Câu trả lời của Pawson thẳng và nặng: Bởi vì sự cứu rỗi của những linh hồn bất tử đang bị đe dọa. Nếu bạn nói với một người rằng phép báp-têm bằng nước tự động cứu họ, bạn đang đẩy họ vào chỗ hư mất. Nếu bạn nói với họ rằng làm việc lành sẽ đưa họ lên thiên đàng, bạn đang chỉ cho họ một con đường sai. Đây không phải là niềm kiêu hãnh tôn giáo. Đây là vì không có gì quan trọng hơn sự thật đưa con người đến sự sống đời đời. Một sự bình an giả tạo trên đất không đáng đánh đổi bằng điểm đến vĩnh cửu của hàng ngàn linh hồn.

Nhưng đây là chỗ Pawson khiến ta phải dừng lại. Trận tuyến hôm nay không còn nằm giữa người Tin Lành và người Công Giáo nữa. Pawson nói thẳng: giờ đây trận tuyến nằm giữa một bên là những người tin theo Phúc Âm (evangelical), và bên kia là nhiều người Tin Lành cùng người Công Giáo, một lằn ranh cắt ngang qua mọi nhãn hệ phái. Ông dẫn một cuốn sách của một giáo sư người Pháp, Những Người Thừa Kế Cải Chánh, đặt câu hỏi: ai mới là người thừa kế đích thực của Martin Luther? Không phải "người Tin Lành" nói chung, mà là những ai, dù mang nhãn gì, cũng đặt Kinh Thánh lên trên mọi sự và đặt Đấng Christ lên trên mọi người. Vì thế, Pawson nói, những ai chỉ bắn về một hướng thì đã lỗi thời. Ông nói rõ: "Tôi không chống người Công Giáo, cũng không chống người Tin Lành. Tôi chống các chủ nghĩa, chống các hệ thống. Tôi muốn yêu thương con người, dù họ là ai." Ông kể mình đã thấy trong lòng dâng lên một tình yêu thật cho các giáo sư Công Giáo mà ông trò chuyện, yêu họ như những con người.

Ghi chú của Kit

Bối cảnh, để khỏi hiểu lầm. Pawson giảng bài này năm 1967, ngay sau khi Công đồng Vatican II vừa kết thúc (1962–1965), và giữa lúc thần học tự do (liberal theology) đã lan rộng gần một thế kỷ trong các giáo hội Tin Lành dòng chính. Nhiều nơi khi ấy công khai nghi ngờ thẩm quyền Kinh Thánh, phép lạ, hay sự phục sinh thân xác của Đấng Christ. Vì thế, khi ông nói trận tuyến nay nằm giữa "người tin theo Phúc Âm" và "nhiều người Tin Lành cùng người Công Giáo", ông không có ý ghét bỏ ai. Ông đang nói về một xác tín: có đặt Kinh Thánh trên hết và Đấng Christ trên hết hay không. Một tín hữu Tin Lành đã bỏ chính cái cốt lõi ấy thì, theo ông, không còn là "người thừa kế thật của Luther". Ở đây có một điều dễ gây bối rối: chính những người evangelical cũng người Tin Lành (Protestant), vậy sao Pawson lại đặt "evangelical" đối lại với "nhiều người Tin Lành"? Là vì ông dùng hai chữ theo hai nghĩa khác nhau. "Evangelical" chỉ một xác tín (Kinh Thánh và Đấng Christ trên hết), còn "Tin Lành" ở vế kia chỉ là một cái nhãn hệ phái, có thể bao gồm cả những người theo thần học tự do đã đánh mất đúng xác tín ấy. (Trong tiếng Việt, "Tin Lành" là từ quen dùng để dịch "Protestant" nói chung.) Câu ông dẫn lấy từ cuốn The Heirs of the Reformation (Jacques de Senarclens, SCM Press, 1963); de Senarclens là nhà thần học Cải Cách người Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, dạy ở Geneva, nên cách Pawson gọi ông là "giáo sư người Pháp" hơi thiếu chính xác. Chính Pawson cũng nhấn mạnh ông "chống hệ thống, không chống con người". Muốn nghe đủ các bề, kể cả cách Công Giáo và Chính Thống Giáo tự trình bày và những điểm hai bên thật sự hội tụ (Tuyên ngôn JDDJ 1999), xin xem lại phần "Hai chiếc ghế còn lại: Rome và Constantinople" ở trên.

Không thầy tế lễ nào ngoài Đấng Christ, không đại diện nào ngoài Đức Thánh Linh. Hãy cất mắt khỏi mọi người khác. Khi von Staupitz hỏi Luther sẽ lấy gì thay cho Mary, các thánh, ảnh tượng và việc đền tội, ông đáp: Đức Chúa Jêsus Christ. Con người chỉ cần một mình Đức Chúa Jêsus Christ.

Đó là lý do Pawson tạ ơn Chúa vì Martin Luther, vì sự lương thiện của ông, vì lòng can đảm dám đứng một mình cho điều ông biết là đúng và thật. Và ông cầu xin Chúa dấy lên thêm nhiều người nữa, những người sẽ trong tình yêu thương mà công bố chân lý, và nói: Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm khác. Làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng lương thiện. Lương tâm tôi bị Lời Chúa cầm giữ.

Lương tâm trước thẩm quyền. Chân lý trước hiệp nhất. Kinh Thánh trước truyền thống. Đức tin trước việc làm. Ân điển trước bí tích. Tín hữu trước giáo sĩ, và biến mọi tín hữu thành thầy tế lễ. Và trên hết: Đấng Christ trước Hội Thánh, trước mọi người và mọi sự khác.

EnglishChurch History — Part 3: The Reformation

David Pawson's sermon on the Reformation opens not with a date but with a letter. He reads onward. It is the epistle Martin Luther loved most, the one on which he wrote a very fine commentary. "A man is justified, not by works of the law, but through faith in Jesus Christ… because by works of the law shall no one be justified." Pawson says those words meant a great deal at the time of the Reformation, over 450 years ago.

On October 31, 1517, a monk and professor of theology named Martin Luther nailed his 95 Theses to the church door in Wittenberg. In those days that door served as a notice board for public debate. People usually treat this as the beginning of the Reformation.

But according to Pawson, there is a later date, nearly three years on, that matters even more. It is the day Martin Luther had a bonfire.

Martin Luther nailing the 95 Theses to the door of the Wittenberg church (31 Oct 1517), the beginning of his attempt to reform the system from within.
Martin Luther nailing the 95 Theses to the door of the Wittenberg church (31 Oct 1517), the beginning of his attempt to reform the system from within.Ferdinand Pauwels, 1872. Public domain, Wikimedia Commons.

In those three years, Luther moved from wanting to spring clean the church to wanting to demolish the whole system. At first, nailing up the 95 Theses, he attacked only the abuse, the sale of indulgences, not the system itself. One of his theses read: "If the Pope knew how the sellers of indulgences fleece his flock, he would rather St. Peter's church were burnt to ashes than built up out of the skin and bones of his sheep." Luther naively assumed the Pope was on his side.

He was quickly disillusioned, and by the Pope himself. Pawson tells it this way: when the indulgence money from Germany dropped, the Pope excommunicated him. Only then did Luther grasp it. The fault was not a few bad men running a good system. The system itself was wrong.

So he threw three things on the fire:

  1. The parchment with the Pope's signature, threatening excommunication.
  2. A book of Canon Law, the code by which he had lived as a monk and priest.
  3. A document he now knew to be a forgery, used to claim the papacy's right to represent Christ on earth.

Before, he was giving the Church a spring clean. Three years later, he began to tear it down.

Kit's note

A correction on the dating. Pawson places the bonfire on "15 June 1520," but that was actually the day Pope Leo X issued the bull Exsurge Domine in Rome. That bull only threatened excommunication and gave Luther 60 days to recant; it did not excommunicate him. Luther burned it, along with the books of Canon Law, on 10 December 1520 at the Elster Gate in Wittenberg, once the 60-day deadline had expired. His formal excommunication did not come until 3 January 1521, by the bull Decet Romanum Pontificem. As for the "forged document": sources list the burned items as the bull and the canon-law compilations, not a distinct "forged decretal." Still, Luther did know Lorenzo Valla's 1440 work exposing the "Donation of Constantine" as a fake. Pawson's point holds; only the date and a detail or two need fixing.

The bonfire of 15 June 1520: Luther burns the papal bull of excommunication, along with canon law and forged decretals, the moment he decided to demolish the old system.
The bonfire of 15 June 1520: Luther burns the papal bull of excommunication, along with canon law and forged decretals, the moment he decided to demolish the old system.Karl Friedrich Lessing (or contemporary), woodcut/illustration. Public domain, Wikimedia Commons.

Reform or Demolish?

Luther's turning point in 3 years (1517–1520)

At first, Luther only meant to spring clean the system. Three years later, he realized the system itself was the problem.

📜

31 October, 1517

The 95 Theses at Wittenberg

  • Goal: Spark theological debate.
  • Attacking the abuse (indulgences), not the system.
  • Assumed the Pope would agree if he knew.

🔥

10 December, 1520

Burning the Papal Bull (Elster Gate)

  • Goal: A complete break.
  • Burned the bull Exsurge Domine (threat of excommunication).
  • Burned the books of Canon Law too.
  • Realized the system itself was wrong.

Pawson holds that the bonfire of 1520 was even more significant than nailing the theses in 1517. (On the dating: the bull Exsurge Domine was issued in Rome on 15 June 1520; Luther burned it at Wittenberg on 10 Dec 1520; his formal excommunication followed on 3 Jan 1521.)

What drove a monk to that fire?

To understand Luther, you have to go back to the terror that drove him into the monastery. Pawson tells it: Luther once nearly died in a thunderstorm. It left him afraid to die, afraid to face God with his sins unforgiven. And he searched desperately for a way out of that fear.

He prayed to the saints, prayed to Mary, went on pilgrimages, gazed at relics and images. He did all of it. And none of it gave him any assurance that his sins were forgiven. Later, talking with his saintly superior von Staupitz, he was asked the decisive question: "If you take away all these crutches to a tottering faith, if you take away Mary, the saints, the images, penance and pilgrimages, what will you put in their place?" Luther's answer, as in the film Pawson's congregation had just watched, was one thing only: "Jesus Christ. Man only needs Jesus Christ."

That was the seed of everything that came after.

Kit's note

A few honest footnotes. The Stotternheim thunderstorm (2 July 1505) and the vow "St. Anne, help me, I will become a monk" are genuine. But the figure that Luther "prayed to 21 saints a week, 3 a day," which many sermons quote, I could not verify against any scholarly source, so treat it as rhetorical rounding. The "crutches to a tottering faith" line I also could not trace verbatim in the standard biographies (Bainton, Kittelson). The substance, though, is well attested: Staupitz turned Luther from self-punishment toward reliance on Christ alone. Luther himself said: "If it had not been for Dr. Staupitz, I should have sunk in hell."

Is the Reformation a dead issue?

In his 1967 sermon, marking the Reformation's 450th anniversary, Pawson tells two stories side by side. Once he attended a meeting of Protestant ministers and members, happened to mention the Reformation, and was told in no uncertain terms that Protestants no longer care for it. It is "dead history," they said, and bringing it up is not the done thing. He came away with his ears ringing.

Yet the very next weekend he was invited to a Roman Catholic seminary in the southeast corner of Ireland to speak to the tutors and lecturers, about the Reformation among other things. They wanted to hear what he thought, wanted an open forum. He said: "I think the issues raised then are still alive, and they have not been settled." They replied: "That is exactly what we think too." Three hours of friendly discussion, then a nice tea, then home.

It is an extraordinary position. He could discuss the Reformation with Roman Catholics, but not with Protestants. Pawson's answer in a nutshell: the Reformation is not out of date. Not because we fight people, Catholic or Protestant, but because we fight systems and isms that blind people to the truth. Only, the front line today is drawn very differently than in Luther's day.

Luther's greatness lies in this. He recovered Seven Priorities, seven things that had been pushed into second place, and put them back in first.

Seven Priorities

What Luther put first

Luther's greatness was getting his priorities right. Seven things that had been relegated to second place, he put back in first.

1
Conscience>Authority

Better to obey God's Word in one's conscience than yield to church or state pressure. (“It is neither safe nor honest to go against conscience.”)

2
Truth>Unity

Unity without the truth of the Gospel is meaningless. What saves people is truth, not an institution.

3
Scripture>Tradition

Every church tradition (praying to saints, purgatory…) must be tested by Scripture (Sola Scriptura).

4
Faith>Works

Not works, nor faith + works. “The just shall live by faith” (Sola Fide). Saved NOT BY good deeds, but FOR good deeds.

5
Grace>Sacraments

Grace is not magically parceled up in sacraments. Without faith, sacraments are useless. Rejects the “magical” view of baptism and the Supper.

6
People>Priests

The priesthood of all believers. Erased the clergy/laity divide. Ministers have a different function, not a different status.

7
Christ>Church

Only one Priest (Christ) and one Vicar (the Holy Spirit). The Church cannot replace Christ. Whoever puts himself in Christ's place is Anti-Christ (instead of Christ).

Let us go through the priorities one by one.

1. Conscience before Authority

Luther lived in an age when freedom of conscience barely existed. It was not the state but the church that told you what to believe and how to behave. To picture that world, remember the tragedy of Galileo. He discovered truths about the universe through his telescope, and was told "you must not believe that, you must not teach that."

Luther was a man who dared to say: "My conscience is captive to the Word of God. It is neither safe nor honest to go against conscience." At the Diet of Worms (1521), before the emperor and the whole machinery of church power, he still would not recant.

And this is no matter of the distant past. The very week he preached, someone handed him a newspaper cutting: over 200 dissident Baptists in the Soviet Union jailed or awaiting trial for "infringing" strict religious laws. One had died after torture; their children questioned for hours about their parents' faith. Pawson notes that perhaps half the human race still lives under totalitarian states that claim the mind as well as the body. The freedom of conscience we take for granted, most of humanity still does not have.

Then Pawson says the world is never led by "jellyfish" with no backbone, drifting with the tide. It is led by people who have the courage of their convictions. And he warns, sharply, that even today's self-styled "non-conformists" conform to one another with astonishing ease. What we need are people who genuinely dare to stand alone.

“Here I stand, I can do no other.”, Luther at the Diet of Worms, standing firm on his conscience and the Word of God against all the power of the empire and the church.
“Here I stand, I can do no other.”, Luther at the Diet of Worms, standing firm on his conscience and the Word of God against all the power of the empire and the church.Anton von Werner, 1877. Public domain, Wikimedia Commons.

Kit's note

The most famous line tied to Worms, "Here I stand, I can do no other. So help me God," is almost certainly a later addition. It is absent from the earliest transcripts. The reliably recorded words are: "…I neither can nor will retract anything, since it is neither safe nor right to go against conscience. God help me. Amen." The resolve is genuine; only the "Here I stand" flourish is a later embellishment.

2. Truth before Unity

One of the gravest charges laid against Luther was that he split the Church, that he was a schismatic. For nearly a thousand years, Western Europe had one Church, one denomination. They told him: recant and leave the Church intact; go on like this and you will break it.

But Luther put Truth before Unity. His conscience was not free to follow every whim, because it was captive to the Word of God. He saw the crucial thing clearly. What saves people is not the unity of the Church but the truth of the gospel. Unite every church on earth tomorrow, and the number of the saved will not rise. What is really needed is the truth of the gospel preached in those churches.

Pawson says it plainly. Our age has one catchword you climb aboard or get hated for refusing, and that word is "unity." A whole world is shrinking through transport, and the Church seems to have caught the echo, crying "unity, unity, unity." He tells a detail he relishes. When the British Council of Churches at Nottingham said the disagreements could be sorted out from within an already-united church, the Baptist Union alone among the denominations wrote back that no, they must be sorted first, and then unite. That is putting truth before unity.

3. Scripture before Tradition

Pawson names a startling detail: Luther was 20 years old before he first held and read a complete Bible. He was raised devout, prepared for a holy life, and yet not until he was 20 did he see that book. And when he read it, he was astonished. So much of what he had been told was a "vital part" of Christian belief and practice was simply not in it. Nothing about praying to Mary or the saints, no relics and images, no purgatory, no penance.

He asked: where did all this come from? The official answer was that it is the Tradition of the Church, and Tradition is as much the Word of God as that book. Luther stood before two "Words of God," one written and one spoken, and was told to accept both. But he came to a conclusion. Only that book is the truth, and every tradition of every church must be brought to the touchstone of Scripture and tested by it. Once he did that, he began to throw tradition out.

Pawson admits candidly that even his own church has unscriptural traditions, and all of them must bow to the Word of God. He tells of a friend (named on the recording as something like "Eduardo Lubinque," a name I could not verify in any independent source, most likely a transcription slip), once a professor of New Testament to the cream of Rome's Jesuit priests. The more he studied Scripture, the less he could keep teaching students that things not in this book were "the Word of God." So he taught himself out of that chair, just as Luther, 450 years earlier, was also a professor of theology. This book had done it.

Erasmus of Rotterdam, the scholar who printed the Greek New Testament (1516), putting “repentance” where “penance” had stood, and paving the way for the Reformation.
Erasmus of Rotterdam, the scholar who printed the Greek New Testament (1516), putting “repentance” where “penance” had stood, and paving the way for the Reformation.Hans Holbein the Younger, 1523. Public domain, Wikimedia Commons.

Kit's note

A piece Pawson does not stress but which matters greatly: Erasmus of Rotterdam. In 1516 this scholar printed the Greek New Testament (the Novum Instrumentum), the very base text Luther used to translate the German New Testament. Where the old Latin read "do penance," Erasmus rendered the Greek correctly as "repent." A small change that knocked out the foundation of the whole penance system. They said "Erasmus laid the egg that Luther hatched," though Erasmus rejected the jab and later clashed sharply with Luther over free will (1524–25). He wanted reform from within, not schism.

4. Faith before Works (Sola Fide)

This is the biggest question a person can ask, and for Luther it was life or death: How do I get right with God? How are my sins forgiven? The old thunderstorm had left him afraid to die with sins unforgiven, so this was no theory.

When John Tetzel came round selling indulgences, Luther was sure that was not the way. You cannot buy forgiveness. Then he took a further step: if you cannot buy it, neither can you earn it by merit. Pawson lays out three answers to the question of how to get to heaven, and every religion falls into one of them:

  • The world says: do good deeds.
  • The church of his day said: you need faith plus good deeds.
  • Luther said: only one thing is needed, and that is to believe.

The manifesto of the Reformation, running from the Old Testament through the New and on to Luther, is: "The just shall live by faith." Not by good deeds, not by faith mixed with works, but by faith, full stop. The Latin sola fide (faith alone) became the great banner of the Reformation.

So what part do good deeds play? Luther put it superbly, and Pawson says it cannot be put better: We are saved NOT BY good deeds, but FOR good deeds. You do not do good deeds to earn the ticket to heaven; you do them because you are going to heaven already.

The Five Solas

Five slogans that distil the Reformation

Luther's seven priorities were later distilled into five Latin “sola / solus” (alone) slogans. To be honest: packaging the “five solas” as a unified list is a later (19th–20th c.) systematization, not a ready-made 16th-c. slogan, but each idea is genuinely rooted in the Reformers themselves.

Sola Scriptura · Scripture alone

Scripture alone is the supreme, infallible authority for faith.

Counter: Catholic and Orthodox: Scripture cannot be severed from the Tradition of the Church that produced it.

Sola Fide · Faith alone

One is justified by faith alone, not by merit.

Counter: Trent (1547): a “living” faith must include works; condemns “faith needing nothing further.”

Sola Gratia · Grace alone

Salvation is entirely God's unmerited gift.

Counter: The broadest common ground, even Trent (Session VI, 1547) teaches grace as the unmerited beginning; reaffirmed in the JDDJ, 1999.

Solus Christus · Christ alone

Christ alone is the one mediator between God and man.

Counter: Contested: the mediating role of the Church, the saints, and Mary in Catholic/Orthodox tradition.

Soli Deo Gloria · Glory to God alone

All glory belongs to God alone.

Counter: Least disputed, but grounds the rejection of excessive honor to persons/institutions.

5. Grace before Sacraments

Luther was raised to believe that grace was parceled up in seven sacraments (Pawson says the number had once run as high as fourteen, then dropped to seven), and that they worked automatically, like magic, regardless of who administered or received them. Baptismal water automatically saved an infant who knew nothing. Bread and wine, at a certain point in the service, automatically became Christ's actual body and blood, then were offered by a priest as a sacrifice, not on a table but on an altar.

Luther thought it through and said: I know I need God's grace, but there is nothing in this book to tell me that grace is wrapped up in sacraments that work automatically. He realized: without faith, the sacraments are no use. "By grace are you saved, through faith," not through sacraments. Grace is not packaged; it flows like a river. The simplest believer, never baptized and without the Lord's Supper, yet with faith, still knows the grace of God. Pawson points to his friends in the Salvation Army. They have no sacraments at all, yet plainly have grace; they are always singing about it.

Of the two sacraments Luther kept (baptism and the Lord's Supper), Pawson honestly admits what even Luther's closest friends had to grant: he never thought the matter through to its logical end, and he got a little muddled on both. What he got right was the order: grace first, sacraments second.

6. People before Priests (The priesthood of all believers)

The church Luther was born into was a pyramid of power. At the top the Pope, then down through Cardinals, Bishops, the orders of monks, to the parish priest. And far at the bottom, the laity. The divide between "clergy" and "laity" was so rigid that even dress and position in the building differed: one end in vestments, the other in ordinary clothes.

Pawson retells how Luther looked at that pyramid and asked, from the top down. What scriptural justification is there for one man up there? None. For bishops? None. For mediating priests? None. Then he came to a wonderful rediscovery: the priesthood of all believers. He made every layman a priest and every priest a layman, seeing there was no division between them at all. There were differences of function, yes, like different organs in one body. So he called them "ministers," not "priests." Every believer is a priest.

That is why he labored to translate the Bible into common German, to put it into the hands of the people rather than the priests. As he said, a maid sweeping a room with a broom could understand the Word better than a priest. Pawson notes that two-thirds of the world's professing Christians still live under priesthood and hierarchical control, so this protest is still needed.

Priesthood of All Believers

Demolishing the pyramid of power

The medieval church was a pyramid: laity at the bottom, pope at the top. Luther declared: There is no middle class. All are priests.

Pre-Reformation Structure

PopeCardinals · Bishops · PriestsLaity (The People)

The Reformation Ideal

Christ(Vicar: Holy Spirit)All Believers(All are Priests)
The title page of Luther's complete German Bible, printed in Wittenberg in 1534, for the first time, ordinary people could read the Word of God in their own tongue.
The title page of Luther's complete German Bible, printed in Wittenberg in 1534, for the first time, ordinary people could read the Word of God in their own tongue.Hans Lufft press, Wittenberg, 1534. Public domain, Wikimedia Commons.

Kit's note

The "maid with a broom" line is a folk phrasing attached to Luther, not a traceable quote of his. The "plowboy knowing Scripture better than the clergy" image actually belongs to William Tyndale in England (echoing Erasmus's NT preface). What is certain, and far more important, is that Luther did translate the Bible for ordinary people. The German New Testament came in 1522 (done in about 11 weeks while he was hidden at the Wartburg), the complete Bible in 1534, and Gutenberg's press multiplied it for a whole nation. That is the real marvel, and it needs no embellishing quote.

7. Christ before the Church

This is the climax. Pawson recalls that when he asked the church-history tutor at that Catholic seminary what the biggest issue of the Reformation was, the two of them agreed. The biggest issue was this: Luther challenged the very idea that Christ and the Church are one, the idea that the Church could do for people what only Christ can do. The Body, that is the Church, was taking the place of the Head, that is Christ.

Pawson works it out through three offices:

  • I need a prophet to teach me God's infallible truth. Who is my prophet? Rome says: the body, the infallible Church. Luther says: the Head.
  • I need a priest to come to God. Who is my priest? Rome says: the body, confess your sins to the Church. Luther says: Christ in heaven, and you may come to God at any time through Him.
  • I need a king to rule me. Who is my king? Rome says: the body on earth. Luther says: my Head in heaven.

So Luther dared to call the papacy "Antichrist." Pawson explains carefully: he did not mean the Pope was against Christ. In its root sense, "anti" means instead of, in the place of. Whoever puts himself in the place of Christ is antichrist. Rome told people that to come to God they must come through it, and that is putting itself in His place.

Then Rome countered with an important argument. When the Head is in heaven and someone on earth wants to come, must they not come through the body? Is not the Pope then Christ's vicar on earth, one standing in His place to convey what He teaches? Luther thought it through and answered: yes, Christ must have a vicar on earth to speak for Him, but that vicar is the Holy Spirit, not the Pope. In sum: "No priest but Christ, and no vicar but the Holy Ghost."

Pawson lands it very practically. That is exactly why there is no confession box anywhere around the walls of his Baptist church. "I cannot forgive your sins, and neither can Gold Hill Baptist Church. If you have sins to confess, go straight to the priest in heaven, who is Christ himself."

Portrait of Martin Luther, who put the Word of God back into the hands of ordinary people in German and affirmed: “The just shall live by faith.”
Portrait of Martin Luther, who put the Word of God back into the hands of ordinary people in German and affirmed: “The just shall live by faith.”Lucas Cranach the Elder, 1529. Public domain, Wikimedia Commons.

Kit's note

On the etymology: reading "anti = instead of" is one valid sense of the Greek prefix anti-, but most standard lexicons treat the primary sense of "antichrist" as "against, opposed to." Both nuances exist in Greek depending on context, and Luther leaned on the "usurper of Christ's place" sense. To call it the only correct meaning (and "against" wrong) overstates it. Better to say Luther drew out a genuine, existing sense of the word to name what he saw: an institution putting itself where Christ alone belongs.

The fire escapes Luther's hands

Pawson preaches mostly about Luther, because Luther lit the fuse. But the fire quickly escaped his hands. Within a single generation the Reformation had split into several streams, each with its own city, its own leader, its own emphasis. Some allied with one another; some quarreled so bitterly they never reconciled. If you hear only of Luther, you would think the Reformation was one solid block. It was not.

More Than One Man

The other faces of the Reformation

Pawson preaches mostly about Luther, because Luther lit the fuse. But the fire quickly escaped his hands. Within a generation the Reformation had split into several streams, each with its own city, its own leader, its own emphasis.

Huldrych Zwingli

Huldrych Zwingli

1484–1531 · Zurich · Reformed

Swiss reformer, independent of Luther. Held the Supper as a memorial symbol. Killed in battle at Kappel.

John Calvin

John Calvin

1509–1564 · Geneva · Reformed

Frenchman who systematized Protestant theology in the “Institutes.” Stressed God's sovereignty and predestination.

Philipp Melanchthon

Philipp Melanchthon

1497–1560 · Wittenberg · Lutheran

Luther's level-headed colleague, chief author of the Augsburg Confession (1530).

Thomas Cranmer

Thomas Cranmer

1489–1556 · Canterbury · Anglican

Archbishop of Canterbury, wrote the Book of Common Prayer. Burned at the stake in 1556.

John Knox

John Knox

c.1514–1572 · Edinburgh · Presbyterian

Calvin's pupil, brought the Presbyterian movement to Scotland.

Menno Simons

Menno Simons

1496–1561 · Netherlands / Friesland · Anabaptist

Former priest who gave the Anabaptists a peaceful, nonviolent identity. The Mennonites bear his name.

Jacobus Arminius

Jacobus Arminius

1560–1609 · Leiden · Dutch Reformed

Challenged Calvin's unconditional predestination; sparked the controversy leading to the Synod of Dort.

Portraits: all public domain (Wikimedia Commons). Knox and Menno Simons are later engravings, as no contemporary likeness survives.

Zwingli and the split over the Supper. In Zurich, Huldrych Zwingli led a reform independent of Luther. The two agreed on nearly everything, and hit only one question: what happens to the bread and wine in the Lord's Supper? At the Marburg Colloquy (1529) they agreed on 14 of 15 articles, then jammed on the last. Luther clung to the word "IS" in "This is my body." He chalked Hoc est corpus meum ("This IS my body") on the table and would not budge. Zwingli held it was only a memorial symbol. They would not shake hands. The united Protestant front broke right there. It is a painful illustration of the very principle "truth before unity," showing how fine the line is between defending truth and splitting the Church.

Calvin and Geneva. A generation later, John Calvin, a Frenchman, systematized the whole of Protestant theology in his Institutes of the Christian Religion, and made Geneva a "school of Christ" to which all Europe sent its people. He stressed the absolute sovereignty of God in salvation.

“This is my body”

Four ways to read the Lord's Supper and the split at Marburg

Nothing divided Protestants from one another (and from Rome) more deeply than one question: what happens to the bread and wine? At the Marburg Colloquy (1529), Luther and Zwingli agreed on 14 of 15 articles, but hit this one. Luther chalked “Hoc est corpus meum” (“This IS my body”) on the table and would not budge. The united Protestant front broke right there.

Catholic

Rome / Trent

Transubstantiation

The substance of bread and wine truly changes into Christ's body and blood; only the outward ‘accidents’ remain.

Luther

Wittenberg

Sacramental union (“in, with, under”)

Christ's body is truly present “in, with, and under” the bread and wine, yet bread remains bread. (Luther rejected the term “consubstantiation.”)

Calvin

Geneva

Spiritual real presence (by the Spirit)

Believers truly receive Christ, but by faith and through the Spirit lifting them up to Christ in heaven.

Zwingli

Zurich

Memorial / Symbolic

The bread and wine are only memorial signs. “This IS my body” means “this SIGNIFIES my body.”

From left (most physical presence) to right (pure symbol). This disagreement kept the Lutheran and Reformed branches from ever fully uniting.

The Marburg Colloquy, 1529: Luther points to the word “Est” (“This IS my body”) he chalked on the table, facing Zwingli. They agreed on 14 of 15 articles, but split forever on the last, the Lord's Supper.
The Marburg Colloquy, 1529: Luther points to the word “Est” (“This IS my body”) he chalked on the table, facing Zwingli. They agreed on 14 of 15 articles, but split forever on the last, the Lord's Supper.August Noack, 1867 (detail). Public domain, Wikimedia Commons.

The "radicals" and their price. Then some saw that neither Luther nor Zwingli had gone far enough. If Scripture alone is the authority, they asked, where in the New Testament is infant baptism? In January 1525 at Zurich, for the first time, they baptized adult believers, and so were called Anabaptists, meaning "re-baptizers." They held to a Church of voluntary believers, separate from the state, refusing the sword and the oath. Later Menno Simons gave the shattered movement a peaceful, nonviolent identity, and the name "Mennonite" came from him.

The price they paid was terrible, and it was exacted by both sides. In those same years (1524–25), the "Peasants' War" erupted as German peasants used the very slogans "priesthood of all believers" and "Scripture alone" to press their demands. It was a use Luther never intended, and he reacted violently, siding squarely with the nobility.

The title page of the “Twelve Articles” (1525), the German peasants' manifesto, invoking the “priesthood of all believers” and “Scripture alone” to demand their rights, a use Luther never intended.
The title page of the “Twelve Articles” (1525), the German peasants' manifesto, invoking the “priesthood of all believers” and “Scripture alone” to demand their rights, a use Luther never intended.Anonymous printing, 1525. Public domain, Wikimedia Commons.

Kit's note

This is one of the painful truths an honest essay should not hide. The Anabaptists were persecuted by both Catholics and the mainstream Reformers. In Zwingli's own Zurich, rebaptism was made a capital crime, and Felix Manz was drowned in the Limmat on 5 Jan 1527, "the first Protestant martyr to die at the hands of other Protestants." Drowning was a calculated mockery of "re-baptism." As for the Peasants' War, Luther wrote "Against the Murderous, Thieving Hordes of Peasants" (1525), urging the lords to "smite, slay, and stab" the rebels like mad dogs; perhaps 100,000 peasants died. Calvin's Geneva has its own stain: the anti-Trinitarian theologian Michael Servetus was burned in 1553 with Calvin's approval (he asked only that the sentence be commuted to the more "humane" sword, and was refused). And the heaviest stain must be named too. Late in life Luther wrote On the Jews and Their Lies (1543), calling for synagogues to be burned. It is a poisonous legacy later exploited by the Nazis, and one that today's Lutheran churches have formally repudiated. The Reformers were real men, with real stains, in a violent age.

Calvin, Arminius, and the war over predestination. Another generation on, the Reformed camp itself split over an aching question: in salvation, does God do it all (whom He chooses is saved), or does man contribute by his own free faith? The Dutch theologian Jacobus Arminius challenged Calvin's unconditional predestination. After his death, his followers drew up the Remonstrance of 1610 in five points. The Synod of Dort (1618–19) met, condemned the Arminian party, and framed the "Five Points of Calvinism," later remembered by the acronym TULIP.

Who chooses whom?

Calvin vs Arminius: Predestination vs Free Will

A generation after Luther, Protestantism split internally over an aching question: in salvation, does God do everything (monergism), or do God and man cooperate (synergism)? The Synod of Dort (1618–19) condemned the Arminian party and framed the “Five Points of Calvinism”, later remembered by the acronym TULIP (a 20th-c. coinage).

Calvin (Dort · TULIP)Arminius (Remonstrance)

Election

Unconditional, God elects by His sovereign will.Conditional, God elects those He foreknew would believe.

Atonement

Limited, Christ died effectively for the elect alone.Universal, Christ died for all, effective only for believers.

Human nature

Total depravity, unable to come to God on one's own.Unable apart from grace, needs grace in order to believe.

Grace

Irresistible, God's grace certainly accomplishes its purpose.Resistible, a person can reject grace.

Perseverance

The elect surely persevere to the end.Left open, needs further study (later: possibly can fall away).

TULIP = Total depravity · Unconditional election · Limited atonement · Irresistible grace · Perseverance. The Arminian “Remonstrance” (1610) offered exactly five counter-points.

A century on fire

How the Reformation spread (1517–1619)

From one monk in one German town, within a century the fire reached Switzerland, England, Scotland, the Netherlands and forced Rome itself to reform.

1517Luther posts the 95 Theses at Wittenberg.
1523Zwingli issues the 67 Articles; Zurich reforms.
1525First Anabaptist adult baptism in Zurich. The Peasants' War (1524–25) reaches its peak.
1529Marburg Colloquy: Luther and Zwingli split over the Supper.
1530Augsburg Confession, foundational Lutheran document.
1534Henry VIII breaks with Rome; the Church of England. Luther's complete German Bible.
1536Calvin publishes the “Institutes”; begins his work in Geneva.
1540The Jesuits are approved, spearhead of the Counter-Reformation.
1545–63Council of Trent, Catholic doctrine defined against the Reformation.
1555Peace of Augsburg: “cuius regio, eius religio”, the ruler's religion is the land's.
1560Knox brings the Presbyterian Reformation to Scotland.
1618–19Synod of Dort condemns the Arminians; frames the Five Points.

The other two chairs: Rome and Constantinople

Pawson preaches from the Protestant chair, strongly and clearly. But he himself says the Reformation's issues "are still alive and have not been settled." And the best way to hear them fully is to pull up the other two chairs.

Rome's answer: the Council of Trent. The definitive Catholic doctrinal response was the Council of Trent (1545–1563). Fairness matters here, because Protestants often caricature Trent as "salvation by works." In fact Trent teaches that grace is the unmerited beginning ("if by grace, it is not now by works"), but that a person must cooperate freely with that grace, and that faith must be a living faith joined to love and good works. Trent condemned sola fide in the sense of "faith alone, nothing further required." It affirmed Scripture and Tradition (with "equal affection of piety"), the seven sacraments, and transubstantiation. On indulgences, the thing that set Luther off, Trent did not abolish indulgences, but abolished the monetized sale of them, exactly what the 95 Theses targeted. The spearhead of this renewal was the Jesuits of Ignatius of Loyola, approved in 1540.

The story does not stop in the 16th century. In 1999 the Joint Declaration on the Doctrine of Justification (JDDJ) between the Catholic Church and the Lutheran World Federation declared a consensus on the basic truths: "by grace alone, in faith in Christ's saving work and not because of any merit on our part, we are accepted by God." In a June 2016 interview, Pope Francis said Luther's "intentions were not mistaken"; he was "a reformer," though "some methods were not correct." Later that year, on 31 October 2016, Francis and the Lutheran World Federation jointly led a common commemoration of the Reformation's 500 years at Lund, Sweden.

The Council of Trent (1545–1563), the definitive Catholic doctrinal response to the Reformation: reaffirming Scripture AND Tradition, justification by grace and cooperation, the seven sacraments, and transubstantiation.
The Council of Trent (1545–1563), the definitive Catholic doctrinal response to the Reformation: reaffirming Scripture AND Tradition, justification by grace and cooperation, the seven sacraments, and transubstantiation.Elia Naurizio, 1633 (Museo del Buonconsiglio, Trento). Public domain, Wikimedia Commons.

Constantinople's answer: a decisive silence. The third chair is Eastern Orthodoxy, usually forgotten by Protestant and Catholic alike. Between roughly 1573 and 1581, Lutheran theologians at Tübingen sent the Augsburg Confession (translated into Greek) to Patriarch Jeremiah II of Constantinople, hoping to find common ground. He replied in three letters, one by one rejecting the core Protestant distinctives. He rejected sola fide ("the Church demands a living faith, made evident by good works") and sola scriptura (Scripture may not be interpreted apart from the Fathers), then politely ended the correspondence.

For Orthodoxy, salvation is not a legal verdict (being declared righteous) but theosis, that is deification, a real process of participating in the life of God. This is synergy, that is cooperation: "God does not save a person against that person's will." So Orthodoxy regards the very "faith versus works" quarrel as a Western, juridical framing it never adopted. Later, when one Patriarch (Cyril Lucaris) drafted a confession leaning heavily toward Calvin, Orthodoxy condemned it at the Synod of Jerusalem (1672). In other words, Orthodoxy formally rejected both Luther and Calvin.

Three Chairs

The debate is three-sided, not two

Pawson preaches from the Protestant chair. But to hear all sides, set the other two chairs beside it. The surprise: all three teach that grace is necessary and unmerited, the caricature “Protestants believe in grace, Catholics/Orthodox believe in earning heaven” is false on all three counts. The real fault lines are authority and the meaning of justification.

Protestant (Reformation)Catholic (Rome)Orthodox (Eastern)
AuthorityScripture alone (Sola Scriptura) stands above all tradition.Scripture AND Apostolic Tradition, “with equal affection of piety” (Trent, 1546).Scripture WITHIN Holy Tradition; the Church produced and canonized Scripture.
JustificationForensic, DECLARED righteous; Christ's righteousness imputed to us.Grace truly TRANSFORMS us; faith formed by love and works (Trent, 1547).Theosis (deification), participation in God's life; faith and works organically joined.
Grace and the willMonergism, God alone saves; the person receives passively.Grace begins unmerited, then the will freely cooperates.Synergy, “God does not save a person against that person's will.”
Common groundGrace is necessary and unmerited.Grace is necessary and unmerited (JDDJ, 1999).Grace is necessary and unmerited.

Orthodoxy formally rejected BOTH Luther (the Jeremiah II correspondence, 1573–81) AND Calvin (the Synod of Jerusalem, 1672).

So then, why fight?

By now many will ask the question Pawson himself raises at the sermon's close. Why dig up these doctrinal matters? Why not compromise for the sake of peace and unity, when everyone is friendly and worships the same God? Is this not petty doctrinal quibbling, a return to the dark ages?

Pawson's answer is blunt and heavy: Because the salvation of immortal souls is at stake. If you tell a man that baptism in water automatically saves him, you damn him. If you tell him good works will earn him heaven, you point him down a wrong road. This is not religious pride. It is that nothing matters more than the truth that brings people to eternal life. A false peace on earth is not worth the eternal destination of thousands of souls.

But here is where Pawson makes us stop. The front line today is no longer between Protestants and Catholics. Pawson says it plainly: the battle now runs between evangelicals on the one hand, and many Protestants and Roman Catholics on the other, a line that cuts across every denominational label. He cites a book by a French professor, The Heirs of the Reformation, which asks: who are the true heirs of Martin Luther? Not "Protestants" in general, but those who, whatever their label, put Scripture above everything and Christ above everyone. And so, Pawson says, those who fire in only one direction are out of date. He is clear: "I am not against Roman Catholics, and I am not against Protestants. I am against isms, against systems. I want to love people, whoever they are." He tells how he found a genuine love rising in his heart for the Catholic tutors he spoke with, loving them as people.

Kit's note

Context, so this is not misread. Pawson preached this in 1967, just after the Second Vatican Council closed (1962–1965), and after nearly a century in which liberal theology had spread through the mainline Protestant churches. Many of them by then openly doubted the authority of Scripture, the miracles, or the bodily resurrection of Christ. So when he says the front line now runs between "evangelicals" and "many Protestants and Roman Catholics," he does not mean hatred of anyone. He means a conviction: whether or not one puts Scripture above all and Christ above all. A Protestant who has abandoned that core is, in his view, no longer a "true heir of Luther." One thing here can confuse: evangelicals are themselves Protestants, so why set "evangelicals" against "many Protestants"? Because Pawson uses the two words in two different senses. "Evangelical" names a conviction (Scripture and Christ above all), while "Protestant" on the other side is only a denominational label, one that can include liberal or nominal Protestants who have lost that very conviction. His quotation comes from The Heirs of the Reformation (Jacques de Senarclens, SCM Press, 1963); de Senarclens was a French-speaking Swiss Reformed theologian who taught at Geneva, so Pawson's "a French professor" is a little imprecise. Pawson himself stresses that he fights "systems, not people." To hear all sides, including how Catholics and the Orthodox present themselves and where the traditions genuinely converge (the 1999 JDDJ), see the "Other two chairs: Rome and Constantinople" section above.

No priest but Christ, and no vicar but the Holy Ghost. Get your eyes off everyone else. When von Staupitz asked Luther what he would put in the place of Mary, the saints, the images and penance, he answered: Jesus Christ. Man only needs Jesus Christ.

That is why Pawson thanks God for Martin Luther, for his honesty, for the courage to stand alone for what he knew was right and true. And he prays God will raise up more such people, who in love will declare the truth and say: Here I stand, I can do no other. It is neither safe nor honest to go against conscience. My conscience is captive to the Word of God.

Conscience before authority. Truth before unity. Scripture before tradition. Faith before works. Grace before sacraments. People before priests, and making every believer a priest. And above all: Christ before the Church, before everyone and everything else.

Đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt

Thư gửi bạn đọc

Bản tin Quillin

Một bản tin tĩnh lặng, gửi đến bạn những bài viết mới, suy tư sâu lắng và các tuyển tập theo mùa. Không quảng cáo, có thể hủy nhận bất cứ lúc nào.

Phản hồi từ bạn đọc (0)

Những suy tư và phản hồi tĩnh lặng gửi về bài viết.

Chưa có phản hồi nào cho bài viết này.

Để lại phản hồi

Đăng nhập để chia sẻ suy tư tĩnh lặng về bài viết này.

Đăng nhập →

Đoạn Kinh Thánh

Đoạn Kinh Thánh