Bỏ qua nội dung chính
Tập I · Tạp Chí Chiêm Niệm
RSS
QUILLIN

Tạp Chí Biên Khảo Tĩnh Lặng

45 phút đọcKit

Lịch Sử Hội Thánh — Phần 3: Cuộc Cải Chánh (The Reformation)

Bảy trật tự ưu tiên đã bị đảo lộn trong Giáo hội, cách Martin Luther đưa chúng về lại đúng vị trí, và ngọn lửa lan khắp Châu Âu sau ông

Có sẵn bằng ngôn ngữ:English →
Lịch Sử Hội Thánh — Phần 3: Cuộc Cải Chánh (The Reformation)

Bài giảng của Mục sư David Pawson về cuộc Cải Chánh không mở ra bằng một niên đại, mà bằng một lá thư. Ông đọc Ga-la-ti chương 2, từ câu 15. Đó là lá thư Martin Luther yêu thích nhất, lá thư ông đã viết hẳn một bài chú giải rất hay. "Người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc của luật pháp đâu, bèn là bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ… vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc của luật pháp." Pawson nói những lời ấy đã mang một sức nặng phi thường vào thời Cải Chánh, cách nay hơn 450 năm.

Ngày 31 tháng 10 năm 1517, một tu sĩ kiêm giáo sư thần học tên Martin Luther đóng 95 Luận đề lên cánh cửa nhà thờ ở Wittenberg. Cánh cửa đó thời ấy được dùng như một bảng thông báo để mời gọi tranh luận công khai. Người ta thường coi đây là ngày mở đầu của Cuộc Cải Chánh.

Nhưng theo Pawson, có một ngày khác, gần ba năm sau, mới thật sự là cột mốc quan trọng hơn. Đó là ngày Luther đốt một đống lửa.

Martin Luther đóng đinh 95 Luận đề lên cửa nhà thờ Wittenberg (31/10/1517), khởi đầu nỗ lực cải tổ hệ thống từ bên trong.
Martin Luther đóng đinh 95 Luận đề lên cửa nhà thờ Wittenberg (31/10/1517), khởi đầu nỗ lực cải tổ hệ thống từ bên trong.Ferdinand Pauwels, năm 1872. Public domain, Wikimedia Commons.

Trong ba năm ấy, Luther đã chuyển từ chỗ muốn dọn dẹp giáo hội sang chỗ muốn phá dỡ cả hệ thống. Ban đầu, khi đóng 95 Luận đề, ông chỉ đụng tới sự lạm dụng, tức việc bán giấy ân xá, chứ không đụng tới hệ thống. Một trong các luận đề của ông viết: "Nếu Giáo hoàng biết bọn bán ân xá đang lột da con chiên của ngài thế nào, hẳn ngài thà để nhà thờ St. Peter cháy thành tro còn hơn xây nó bằng da thịt và xương cốt của bầy chiên." Luther ngây thơ tin rằng Giáo hoàng đứng về phía mình.

Ông nhanh chóng vỡ mộng, mà lại vỡ mộng bởi chính Giáo hoàng. Pawson kể: thấy tiền ân xá từ Đức chảy về giảm sút, Giáo hoàng liền dứt phép thông công Luther. Chính lúc đó Luther mới hiểu ra. Lỗi không nằm ở một vài cá nhân tồi tệ đang vận hành một hệ thống tốt. Chính bản thân hệ thống ấy đã sai.

Thế là ông đem ba thứ ném vào lửa:

  1. Sắc chỉ của Giáo hoàng (có chữ ký của ngài) đe dọa dứt phép thông công.
  2. Cuốn Giáo luật (Canon Law), bộ luật ông từng phải sống theo với tư cách một tu sĩ và linh mục.
  3. Một tài liệu ông nay đã biết là giả mạo, thứ được dùng để tuyên bố quyền của Giáo hoàng đại diện cho Đấng Christ trên đất.

Trước đó ông chỉ muốn tổng vệ sinh Hội Thánh. Ba năm sau, ông bắt đầu đập bỏ nó.

✍︎Ghi chú của Kit

Một đính chính về niên đại. Pawson đặt đống lửa vào "ngày 15 tháng 6 năm 1520", nhưng ngày ấy thật ra là ngày Giáo hoàng Leo X ban hành sắc chỉ Exsurge Domine ở Rome. Sắc chỉ này chỉ đe dọa dứt phép thông công và cho Luther 60 ngày để rút lời, chứ chưa dứt phép. Luther đốt sắc chỉ đó cùng bộ Giáo luật vào ngày 10 tháng 12 năm 1520, tại Cổng Elster ở Wittenberg, khi hạn 60 ngày kết thúc. Mãi đến ngày 3 tháng 1 năm 1521 ông mới chính thức bị dứt phép thông công qua sắc chỉ Decet Romanum Pontificem. Còn chi tiết "tài liệu giả mạo": các nguồn liệt kê những thứ bị đốt là sắc chỉ và các bộ giáo luật, chứ không chắc có một "sắc lệnh giả mạo" riêng. Dù vậy, Luther quả thật biết công trình của Lorenzo Valla (1440) vạch trần "Sắc chỉ Constantine" là đồ ngụy tạo. Luận điểm của Pawson vẫn vững; chỉ có ngày tháng và vài chi tiết là cần chỉnh lại.

Cuộc đốt lửa ngày 15/6/1520: Luther thiêu sắc chỉ dứt phép thông công của Giáo hoàng, cùng giáo luật và các sắc lệnh giả mạo, thời khắc ông quyết định phá bỏ hệ thống cũ.
Cuộc đốt lửa ngày 15/6/1520: Luther thiêu sắc chỉ dứt phép thông công của Giáo hoàng, cùng giáo luật và các sắc lệnh giả mạo, thời khắc ông quyết định phá bỏ hệ thống cũ.Karl Friedrich Lessing (hoặc nghệ sĩ cùng thời), khắc gỗ/tranh minh hoạ. Public domain, Wikimedia Commons.

Sửa Chữa hay Phá Bỏ?

Bước ngoặt trong 3 năm của Luther (1517–1520)

Lúc đầu Luther chỉ định dọn dẹp hệ thống. Ba năm sau, ông nhận ra chính hệ thống ấy là vấn đề.

📜

31 Tháng 10, 1517

95 Luận đề tại Wittenberg

  • Mục đích: Khơi mào tranh luận thần học.
  • Tấn công sự lạm dụng (bán ân xá), không phải hệ thống.
  • Tin rằng Giáo hoàng sẽ đồng ý nếu biết chuyện.

🔥

10 Tháng 12, 1520

Đốt sắc chỉ Giáo hoàng (Cổng Elster)

  • Mục đích: Cắt đứt hoàn toàn.
  • Thiêu sắc chỉ Exsurge Domine (dọa dứt phép thông công).
  • Thiêu cả bộ Giáo luật (Canon Law).
  • Nhận ra chính hệ thống đã sai.

Pawson nhận định hành động đốt lửa năm 1520 còn quan trọng hơn việc đóng luận đề năm 1517. (Lưu ý ngày tháng: sắc chỉ Exsurge Domine được ban ở Rome ngày 15/6/1520; Luther đốt nó tại Wittenberg ngày 10/12/1520; ông chính thức bị dứt phép thông công ngày 3/1/1521.)

Điều gì đã đưa một tu sĩ đến đống lửa ấy?

Muốn hiểu Luther, phải quay về nỗi kinh hoàng đã đẩy ông vào tu viện. Pawson kể: Luther từng suýt mất mạng trong một cơn giông. Chuyện đó khiến ông sợ chết, sợ phải đối diện Đức Chúa Trời khi tội lỗi chưa được tha. Và ông tuyệt vọng đi tìm một lối ra khỏi nỗi sợ ấy.

Ông cầu nguyện với các thánh, cầu nguyện với Mary, đi hành hương, chiêm ngưỡng thánh tích và ảnh tượng. Ông làm đủ cả. Vậy mà không điều nào cho ông được sự bảo đảm rằng tội mình đã được tha. Về sau, trò chuyện với bề trên khả kính của mình là von Staupitz, ông nhận một câu hỏi quyết định: "Nếu con vứt bỏ hết những cái nạng chống đỡ một đức tin lung lay, nếu con bỏ Mary, bỏ các thánh, bỏ ảnh tượng, bỏ việc đền tội và hành hương, thì con lấy gì thay vào chỗ đó?" Câu trả lời của Luther, như trong bộ phim mà hội chúng của Pawson vừa xem, chỉ vỏn vẹn một điều: "Đức Chúa Jêsus Christ. Con người chỉ cần một mình Đức Chúa Jêsus Christ."

Đó là hạt giống của tất cả những gì sắp đến.

✍︎Ghi chú của Kit

Vài chi tiết cần nói cho thật. Cơn giông ở Stotternheim (2/7/1505) và lời khấn "Thánh Anne ơi, xin cứu con, con sẽ đi tu" là có thật. Nhưng con số "Luther cầu nguyện với 21 vị thánh mỗi tuần, 3 vị mỗi ngày" mà nhiều bài giảng hay dẫn thì tôi không tìm ra nguồn học thuật nào xác nhận, nên hãy xem đó là cách nói ước lệ. Câu "cái nạng chống đỡ đức tin lung lay" cũng không tra được nguyên văn trong các tiểu sử chuẩn (Bainton, Kittelson). Còn ý chính thì hoàn toàn có thật và được ghi lại rõ: von Staupitz đã kéo Luther từ chỗ tự hành xác sang chỗ nương cậy một mình Đấng Christ. Chính Luther nói: "Nếu không có Tiến sĩ Staupitz, hẳn tôi đã chìm xuống địa ngục."

Cải chánh có phải chuyện đã chết?

Trong chính bài giảng năm 1967, nhân dịp kỷ niệm 450 năm Cải Chánh, Pawson kể hai câu chuyện đặt cạnh nhau. Có lần ông dự một buổi họp của các mục sư và tín hữu Tin Lành, lỡ miệng nhắc đến Cải Chánh, và bị nhắc thẳng thừng rằng ngày nay người Tin Lành chẳng còn thiết tha gì với Cải Chánh nữa. Đó là "lịch sử đã chết", nhắc tới là bất lịch sự. Ông ra về sau khi bị quở một trận nên thân.

Vậy mà ngay cuối tuần sau, ông lại được mời đến một chủng viện Công Giáo ở đông nam Ireland để nói chuyện với các giáo sư và giảng viên, trong đó có cả về Cải Chánh. Họ muốn nghe ông nghĩ gì, muốn thảo luận cởi mở. Ông nói: "Tôi cho rằng những vấn đề được nêu ra thời ấy vẫn còn sống, và chúng chưa được giải quyết." Họ đáp: "Đó cũng đúng là điều chúng tôi nghĩ." Ba tiếng đồng hồ trò chuyện thân tình, rồi một tách trà, rồi ông ra về.

Thật là một tình thế kỳ lạ. Ông có thể bàn về Cải Chánh với người Công Giáo, mà lại không bàn được với người Tin Lành. Câu trả lời của Pawson gói gọn thế này: Cải Chánh không hề lỗi thời. Không phải vì ta chống lại con người, dù là Công Giáo hay Tin Lành, mà vì ta chống lại những hệ thống và chủ nghĩa làm mù lòng người ta trước chân lý. Có điều, trận tuyến hôm nay được vẽ rất khác thời Luther.

Sự vĩ đại của Luther nằm ở chỗ ông đã lấy lại được Bảy Trật Tự Ưu Tiên. Bảy điều từng bị đẩy xuống hàng thứ yếu, ông đem trả về vị trí số một.

Bảy Trật Tự Ưu Tiên

Điều Luther đặt lên hàng đầu

Sự vĩ đại của Luther là ông đã đảo ngược lại những gì bị đặt sai chỗ. Bảy điều từng bị coi là thứ yếu đã được ông đưa về đúng vị trí số một.

1
Lương tâm>Thẩm quyền

Thà thuận phục Lời Chúa trong lương tâm còn hơn tuân phục mọi áp lực từ giáo hội hay nhà nước. (“Làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng lương thiện.”)

2
Chân lý>Sự hiệp nhất

Sự hiệp nhất mà không dựa trên chân lý Phúc Âm là vô nghĩa. Điều cứu con người là sự thật, không phải tổ chức.

3
Kinh Thánh>Truyền thống

Mọi truyền thống của giáo hội (cầu nguyện với thánh, luyện ngục…) đều phải được kiểm định bằng Kinh Thánh (Sola Scriptura).

4
Đức tin>Việc làm

Không phải việc làm, cũng không phải đức tin + việc làm. “Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Sola Fide). Ta được cứu KHÔNG PHẢI BỞI việc lành, mà ĐỂ LÀM việc lành.

5
Ân điển>Bí tích

Ân điển không bị đóng gói tự động trong bí tích. Nếu không có đức tin, bí tích là vô ích. Bác bỏ quan điểm “phép thuật” về báp-têm và Tiệc Thánh.

6
Tín hữu>Giáo sĩ

Chức tế lễ của mọi tín đồ. Xoá bỏ ranh giới giáo sĩ / giáo dân. Mục sư là những người có chức năng khác, không phải một giai cấp trung gian.

7
Đấng Christ>Hội Thánh

Chỉ một Linh Mục (Đấng Christ) và một Đại Diện (Đức Thánh Linh). Hội Thánh không thể thay thế Đấng Christ. Ai đặt mình vào chỗ của Christ chính là Anti-Christ (thay thế Christ).

Hãy đi qua từng ưu tiên một.

1. Lương tâm trước Thẩm quyền

Luther sống trong một thời đại gần như không có tự do lương tâm. Bảo bạn phải tin gì và sống thế nào không phải là nhà nước, mà là chính giáo hội. Muốn hình dung thế giới ấy, hãy nhớ lại thảm kịch của Galileo. Ông khám phá qua kính viễn vọng những sự thật về vũ trụ, rồi bị bảo rằng "ngươi không được tin điều đó, không được dạy điều đó."

Luther là con người dám nói: "Lương tâm tôi bị Lời Chúa cầm giữ. Làm trái lương tâm là điều không an toàn, cũng chẳng lương thiện." Tại phiên tòa Worms (1521), đứng trước hoàng đế và cả guồng máy quyền lực của giáo hội, ông vẫn không rút lời.

Và đây không phải chuyện của thời xa xưa. Ngay tuần ông giảng, có người đưa tận tay ông một mẩu báo: hơn 200 tín hữu Báp-tít bất đồng chính kiến ở Liên Xô đang ngồi tù hoặc chờ xét xử vì "vi phạm" luật tôn giáo hà khắc. Một người đã chết sau khi bị tra tấn; con cái họ bị thẩm vấn hàng giờ về đức tin của cha mẹ. Pawson nhắc: có lẽ phân nửa nhân loại vẫn đang sống dưới những nhà nước toàn trị đòi kiểm soát cả tâm trí lẫn thân thể. Cái tự do lương tâm mà chúng ta coi là đương nhiên, phần đông loài người vẫn chưa có.

Rồi Pawson nói: thế giới không bao giờ được dẫn dắt bởi những "con sứa" không xương sống, cứ trôi theo dòng nước. Nó luôn được dẫn dắt bởi những người có can đảm với xác tín của mình. Ông cảnh báo một điều rất sắc. Ngay cả những người tự nhận là "không theo khuôn" (non-conformist) ngày nay cũng lại rập khuôn theo nhau dễ đến lạ. Cái ta cần là những con người thật sự dám đứng một mình.

“Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm gì khác.” (Here I stand, I can do no other), Luther trước Tòa án Worms, đứng vững trên lương tâm và Lời Chúa trước mọi quyền lực của đế quốc và giáo hội.
“Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm gì khác.” (Here I stand, I can do no other), Luther trước Tòa án Worms, đứng vững trên lương tâm và Lời Chúa trước mọi quyền lực của đế quốc và giáo hội.Anton von Werner, năm 1877. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Ghi chú của Kit

Câu nổi tiếng nhất gắn với Worms, "Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm khác. Xin Chúa giúp tôi." (Here I stand, I can do no other), gần như chắc chắn là được thêm vào sau. Nó không có trong các biên bản sớm nhất. Câu được ghi lại đáng tin là: "…tôi không thể và sẽ không rút lại điều gì, vì làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng ngay thẳng. Xin Chúa giúp con. Amen." Khí phách và tinh thần thì đúng thật; chỉ riêng vế "Đây là lập trường của tôi" mới là một sự tô điểm của đời sau.

2. Chân lý trước Sự hiệp nhất

Một trong những tội danh nặng nhất người ta gán cho Luther là: kẻ chia rẽ Hội Thánh, một tên ly giáo. Suốt gần một ngàn năm, Tây Âu chỉ có một Giáo hội duy nhất, một hệ phái duy nhất. Người ta bảo ông: hãy rút lời để giữ Hội Thánh cho nguyên vẹn; cứ tiếp tục thế này là ông sẽ làm vỡ nó.

Nhưng Luther đặt Chân Lý lên trên Hiệp Nhất. Lương tâm ông không được tự do chạy theo mọi ý thích, vì nó bị Lời Chúa cầm giữ. Ông thấy rõ một điều mấu chốt. Cái cứu con người không phải là sự hiệp nhất của Hội Thánh, mà là sự thật của Phúc Âm. Dù bạn có hợp nhất mọi giáo hội trên đất vào ngày mai, số người được cứu cũng chẳng vì thế mà tăng thêm. Cái thật sự cần là chân lý Phúc Âm được rao giảng trong các giáo hội ấy.

Pawson nói thẳng: thời chúng ta có một khẩu hiệu mà hễ không leo lên cỗ xe đó là bị ghét bỏ, ấy là "hiệp nhất". Cả một thế giới đang co lại vì giao thông, và Hội Thánh dường như bắt được tiếng vọng, cứ hô "hiệp nhất, hiệp nhất, hiệp nhất". Ông kể một chi tiết ông rất tâm đắc. Khi Hội đồng Giáo hội Anh ở Nottingham nói rằng có thể giải quyết các bất đồng từ bên trong một giáo hội đã hợp nhất, thì riêng Liên hiệp Báp-tít, đơn độc giữa các hệ phái, đã viết lại rằng không: phải giải quyết cho xong trước, rồi mới hợp nhất. Đó chính là đặt chân lý trước hiệp nhất.

3. Kinh Thánh trước Truyền thống

Pawson nêu một chi tiết gây sững sờ: Luther đã 20 tuổi mới lần đầu cầm và đọc một quyển Kinh Thánh trọn bộ. Ông được nuôi dạy sùng đạo, được chuẩn bị cho một đời sống thánh, vậy mà mãi tới năm 20 tuổi mới thấy cuốn sách ấy. Và khi đọc, ông kinh ngạc. Bao nhiêu điều ông từng được dạy là "phần cốt yếu" của đức tin và nếp sống Cơ Đốc lại không hề có trong đó. Không có chỗ nào dạy cầu nguyện với Mary hay với các thánh, không có thánh tích và ảnh tượng, không có luyện ngục, không có việc đền tội.

Ông hỏi: vậy những thứ kia từ đâu ra? Câu trả lời chính thức là: đó là Truyền Thống của Hội Thánh, và Truyền Thống cũng là Lời Chúa y như quyển sách kia. Luther đứng trước hai "Lời Chúa", một được viết ra và một được truyền miệng, rồi bị bảo phải nhận cả hai. Nhưng ông đi tới một kết luận. Chỉ cuốn sách kia mới là chân lý, và mọi truyền thống của mọi giáo hội đều phải đem đến hòn đá thử là Kinh Thánh mà xét nghiệm. Làm thế rồi, ông bắt đầu ném bỏ truyền thống.

Pawson thẳng thắn thừa nhận rằng ngay chính hội thánh của ông cũng có những truyền thống phi Kinh Thánh, và tất cả đều phải quy phục Lời Chúa. Ông kể về một người bạn (tên theo băng ghi âm nghe như "Eduardo Lubinque", một cái tên tôi không tra được trong nguồn độc lập, rất có thể do phiên âm sai), nguyên là giáo sư Tân Ước dạy các linh mục dòng Tên tinh tuyển ở Rome. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, ông càng không thể tiếp tục dạy học trò rằng những điều không có trong sách này lại là "Lời Chúa". Thế là ông tự dạy mình ra khỏi cái ghế đó, y như Luther 450 năm trước cũng vốn là một giáo sư thần học. Chính cuốn sách này đã làm điều ấy.

Erasmus của Rotterdam, học giả đã in lại Tân Ước Hy Lạp (1516), đặt chữ “ăn năn” vào chỗ chữ “đền tội”, mở đường cho Cải Chánh.
Erasmus của Rotterdam, học giả đã in lại Tân Ước Hy Lạp (1516), đặt chữ “ăn năn” vào chỗ chữ “đền tội”, mở đường cho Cải Chánh.Hans Holbein Trẻ, năm 1523. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Ghi chú của Kit

Một mảnh ghép Pawson không nhấn mạnh nhưng rất quan trọng: Erasmus của Rotterdam. Năm 1516, học giả này in bản Tân Ước Hy Lạp (Novum Instrumentum), chính là bản văn nền mà Luther dùng để dịch Tân Ước sang tiếng Đức. Chỗ bản Latin cũ dịch là "hãy làm việc đền tội" (do penance), Erasmus dịch lại cho đúng nghĩa Hy Lạp là "hãy ăn năn" (repent). Một thay đổi nhỏ mà lật đổ cả nền tảng của hệ thống đền tội. Người ta nói "Erasmus đẻ trứng, Luther ấp nở", dù chính Erasmus phủ nhận và về sau còn tranh luận gay gắt với Luther về ý chí tự do (1524–25). Ông muốn cải cách từ bên trong, chứ không muốn ly khai.

4. Đức tin trước Việc làm (Sola Fide)

Đây là câu hỏi lớn nhất một đời người có thể hỏi, và với Luther nó là chuyện sinh tử: Làm sao tôi được làm hòa với Đức Chúa Trời? Làm sao tội tôi được tha? Cơn giông năm xưa đã khiến ông sợ chết khi tội chưa được tha, nên đây không phải chuyện lý thuyết.

Khi John Tetzel đi rao bán ân xá, Luther chắc chắn đó không phải là con đường. Bạn không thể mua sự tha thứ. Rồi ông tiến thêm một bước: nếu không mua được, thì cũng không kiếm được bằng công đức. Pawson chỉ ra ba câu trả lời cho câu hỏi làm sao lên thiên đàng, và mọi tôn giáo đều rơi vào một trong ba:

  • Thế gian nói: hãy làm việc lành.
  • Giáo hội thời đó nói: phải có đức tin cộng việc lành.
  • Luther nói: chỉ cần một điều, ấy là tin.

Bản tuyên ngôn của Cải Chánh, đi từ Cựu Ước qua Tân Ước rồi đến Luther, là: "Người công bình sẽ sống bởi đức tin." Không phải bởi việc lành, cũng không phải bởi đức tin pha việc lành, mà bởi đức tin, chấm hết. Chữ Latin sola fide (chỉ bởi đức tin) trở thành ngọn cờ lớn của Cải Chánh.

Vậy thì việc lành có vai trò gì? Luther tóm tắt tuyệt hay, và Pawson nói không thể diễn đạt hay hơn: Chúng ta được cứu KHÔNG PHẢI BỞI việc lành, mà là ĐỂ LÀM việc lành. Bạn không làm việc lành để kiếm tấm vé lên trời; bạn làm việc lành bạn đang đi lên trời rồi.

Năm chữ “Chỉ”

Năm khẩu hiệu cô đọng của Cải Chánh

Bảy ưu tiên của Luther về sau được cô lại thành năm chữ La-tinh “sola / solus” (chỉ, duy nhất). Cần thành thật: gói “năm solas” như một danh sách thống nhất là cách hệ thống hoá của đời sau (thế kỷ 19–20), không phải khẩu hiệu có sẵn từ thế kỷ 16, nhưng từng ý thì đều bắt rễ trong chính các nhà cải chánh.

Sola Scriptura · Chỉ Kinh Thánh

Chỉ Kinh Thánh là thẩm quyền tối cao và không sai lầm cho đức tin.

Phản biện: Công Giáo và Chính Thống: Kinh Thánh không thể tách khỏi Truyền Thống của Hội Thánh đã sản sinh ra nó.

Sola Fide · Chỉ bởi đức tin

Con người được xưng công bình chỉ bởi đức tin, không bởi công đức.

Phản biện: Trent (1547): đức tin “sống” phải kèm việc lành; kết án “đức tin đơn thuần không cần gì thêm”.

Sola Gratia · Chỉ bởi ân điển

Sự cứu rỗi hoàn toàn là ơn Chúa ban, không do công đức con người.

Phản biện: Điểm đồng thuận lớn nhất: ngay cả Trent (Khoá VI, 1547) cũng dạy ân điển là bước khởi đầu Chúa ban không do công đức; được xác nhận lại tại JDDJ 1999.

Solus Christus · Chỉ một mình Christ

Chỉ Đấng Christ là Đấng Trung Bảo duy nhất giữa Chúa và loài người.

Phản biện: Tranh luận: vai trò trung gian của Hội Thánh, các thánh và Mary trong truyền thống Công Giáo/Chính Thống.

Soli Deo Gloria · Chỉ vinh hiển Chúa

Mọi vinh hiển thuộc về một mình Đức Chúa Trời.

Phản biện: Ít gây tranh cãi, nhưng làm nền cho việc bác bỏ sự tôn kính thái quá dành cho con người/định chế.

5. Ân điển trước Bí tích

Luther được nuôi dạy để tin rằng ân điển được gói gọn trong bảy bí tích (Pawson nói con số ấy từng lên tới mười bốn, rồi rút dần xuống bảy), và rằng chúng vận hành tự động như phép thuật, bất kể ai làm hay ai nhận. Nước báp-têm tự động cứu một đứa trẻ chưa biết gì. Bánh và rượu, đến một thời điểm nhất định trong buổi lễ, tự động biến thành thân thể và huyết thật của Chúa, rồi được một thầy tế lễ dâng lên như một của lễ, không phải trên một cái bàn mà trên một bàn thờ.

Luther suy nghĩ thấu đáo rồi nói: tôi biết mình cần ân điển của Chúa, nhưng trong cuốn sách này không có chỗ nào bảo rằng ân điển ấy bị gói trong các bí tích vận hành tự động. Ông nhận ra: không có đức tin, bí tích chẳng ích gì. "Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu", chứ không phải nhờ bí tích. Ân điển không bị đóng gói; nó tuôn chảy như một dòng sông. Người tín hữu giản dị nhất, dù chưa từng chịu báp-têm hay dự Tiệc Thánh, mà có đức tin, thì vẫn biết ân điển của Chúa. Pawson dẫn ví dụ những người bạn trong Đội Quân Cứu Thế (Salvation Army). Họ không có bí tích nào, nhưng rõ ràng có ân điển; họ hát về nó suốt.

Về hai bí tích mà Luther giữ lại (báp-têm và Tiệc Thánh), Pawson thành thật thừa nhận một điều mà ngay cả bạn thân của Luther cũng phải nhìn nhận: ông chưa bao giờ suy nghĩ vấn đề này đến tận cùng logic của nó, và có phần lúng túng ở cả hai. Điều ông làm đúng là đặt lại thứ tự: ân điển trước, bí tích sau.

6. Tín hữu trước Giáo sĩ (Chức tế lễ của mọi tín đồ)

Nhà thờ mà Luther sinh ra là một kim tự tháp quyền lực. Trên đỉnh là Giáo hoàng, rồi xuống dần đến các Hồng y, Giám mục, các dòng tu, cho tới linh mục xứ. Và tít dưới đáy là giáo dân. Ranh giới giữa "giáo sĩ" và "giáo dân" rạch ròi tới mức ngay cả trang phục và chỗ đứng trong nhà thờ cũng khác nhau: một đầu mặc áo lễ, một đầu mặc thường phục.

Pawson kể lại cách Luther nhìn vào cái tháp ấy rồi hỏi từ trên xuống. Có nền tảng Kinh Thánh nào cho một người ngồi trên đỉnh như thế không? Không. Cho các giám mục? Không. Cho các linh mục trung gian? Không. Rồi ông đi đến một sự tái khám phá kỳ diệu: Chức tế lễ của mọi tín đồ. Ông biến mọi giáo dân thành thầy tế lễ và mọi thầy tế lễ thành giáo dân, vì thấy giữa họ chẳng có sự phân chia nào. Có khác biệt về chức năng, đúng vậy, giống như các bộ phận khác nhau trong một thân thể. Nên ông gọi họ là "người phục vụ" (ministers), chứ không phải "thầy tế lễ" (priests). Mọi tín đồ đều là thầy tế lễ.

Đó là lý do ông cất công dịch Kinh Thánh sang thứ tiếng Đức bình dân, để trao nó cho người dân thay vì cho giới linh mục. Như ông nói, một cô hầu gái cầm chổi quét nhà cũng có thể hiểu Lời Chúa hơn cả một linh mục. Pawson nhắc rằng hai phần ba số người xưng mình là Cơ Đốc nhân trên thế giới ngày nay vẫn sống dưới chế độ giáo phẩm và kiểm soát theo thứ bậc, nên lời phản kháng này vẫn còn cần thiết.

Chức Tế Lễ Của Mọi Tín Đồ

Phá bỏ kim tự tháp quyền lực

Nhà thờ Trung Cổ là một kim tự tháp: giáo dân ở đáy, giáo hoàng ở đỉnh. Luther tuyên bố: Không có giai cấp trung gian. Tất cả đều là thầy tế lễ.

Cấu trúc trước Cải Chánh

Giáo HoàngHồng Y · Giám Mục · Linh MụcGiáo Dân (Người thường)

Lý tưởng của Cải Chánh

Đấng Christ(Đại diện: Thánh Linh)Toàn Thể Hội Thánh(Mọi người đều là Thầy Tế Lễ)
Trang tựa cuốn Kinh Thánh trọn bộ bằng tiếng Đức của Luther, in năm 1534 tại Wittenberg, lần đầu tiên người dân thường có thể đọc Lời Chúa bằng ngôn ngữ của mình.
Trang tựa cuốn Kinh Thánh trọn bộ bằng tiếng Đức của Luther, in năm 1534 tại Wittenberg, lần đầu tiên người dân thường có thể đọc Lời Chúa bằng ngôn ngữ của mình.Xưởng in Hans Lufft, Wittenberg, 1534. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Ghi chú của Kit

Câu "cô hầu gái cầm chổi" là một lối nói dân gian gắn với Luther, chứ không phải nguyên văn có thể tra được của ông. Hình ảnh "người cày ruộng thuộc Kinh Thánh hơn giáo sĩ" thật ra gắn với William Tyndale ở Anh (và vọng lại lời tựa Tân Ước của Erasmus). Điều chắc chắn và quan trọng hơn nhiều là: Luther thật sự đã dịch Kinh Thánh cho người bình dân. Tân Ước tiếng Đức ra năm 1522 (dịch trong chừng 11 tuần khi ông ẩn ở lâu đài Wartburg), trọn bộ Kinh Thánh ra năm 1534, rồi máy in Gutenberg nhân nó ra cho cả một dân tộc. Đó mới là kỳ tích thật, chẳng cần một câu trích tô điểm.

7. Đấng Christ trước Hội Thánh

Đây là đỉnh điểm. Pawson kể rằng khi ông hỏi vị giáo sư lịch sử giáo hội ở chủng viện Công Giáo kia đâu là vấn đề lớn nhất của Cải Chánh, hai người đã đồng ý với nhau. Vấn đề lớn nhất là: Luther thách thức chính ý niệm rằng Đấng Christ và Hội Thánh là một, rằng Hội Thánh có thể làm cho con người điều mà chỉ một mình Đấng Christ mới làm được. Thân thể, tức Hội Thánh, đang chiếm chỗ của Đầu, tức Đấng Christ.

Pawson triển khai qua ba vai trò:

  • Tôi cần một tiên tri để dạy tôi chân lý không sai lầm của Chúa. Ai là tiên tri của tôi? Rome nói: là thân thể, tức Hội Thánh không sai lầm. Luther nói: là Đầu.
  • Tôi cần một thầy tế lễ để đến với Chúa. Ai là thầy tế lễ của tôi? Rome nói: là thân thể, hãy xưng tội với Hội Thánh. Luther nói: là Đấng Christ trên trời, và bạn có thể đến với Chúa bất cứ lúc nào qua Ngài.
  • Tôi cần một vị vua để cai trị tôi. Ai là vua của tôi? Rome nói: là thân thể ở dưới đất. Luther nói: là Đầu tôi ở trên trời.

Vì thế Luther dám gọi chế độ Giáo hoàng là "Anti-Christ". Pawson giải thích cẩn thận: ông không có ý nói Giáo hoàng chống lại Đấng Christ. Theo nghĩa gốc, "anti" nghĩa là thay thế cho, đứng vào chỗ của. Ai đặt mình vào chỗ của Đấng Christ thì là anti-christ. Rome nói với người ta rằng muốn đến với Chúa phải qua chúng tôi, và như thế là đặt mình vào chỗ của Ngài.

Rồi Rome phản công bằng một luận điểm quan trọng. Khi Đầu ở trên trời mà người dưới đất muốn đến, chẳng phải họ phải đi qua thân thể sao? Vậy Giáo hoàng chẳng phải là đại diện (vicar) của Đấng Christ ở trần gian, người đứng thay chỗ Ngài để truyền đạt điều Ngài dạy sao? Luther suy đi rồi đáp: đúng, Đấng Christ phải có một đại diện trên đất để nói thay Ngài, nhưng đại diện đó là Đức Thánh Linh, chứ không phải Giáo hoàng. Tóm lại: "Không thầy tế lễ nào ngoài Đấng Christ, không đại diện nào ngoài Đức Thánh Linh."

Pawson kết lại rất thực tế. Chính vì lẽ đó mà quanh tường nhà thờ Báp-tít của ông chẳng có một tòa giải tội nào. "Tôi không thể tha tội cho bạn, hội thánh Gold Hill này cũng không thể. Nếu bạn có tội cần xưng, hãy đến thẳng vị Linh Mục ở trên trời, là chính Đấng Christ."

Chân dung Martin Luther, người đã đưa Lời Chúa trở lại tay người bình dân bằng tiếng Đức và khẳng định: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”
Chân dung Martin Luther, người đã đưa Lời Chúa trở lại tay người bình dân bằng tiếng Đức và khẳng định: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”Lucas Cranach Trẻ (hoặc Lớn), năm 1529. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Ghi chú của Kit

Về nguyên ngữ: giải thích "anti = thay thế" là một nghĩa hợp lệ của tiền tố Hy Lạp anti-, nhưng phần lớn từ điển chuẩn coi nghĩa gốc và chính của "antichrist" là "chống lại, đối nghịch". Cả hai nét nghĩa đều tồn tại trong tiếng Hy Lạp tùy ngữ cảnh, và Luther nhấn vào nét "kẻ chiếm chỗ Đấng Christ". Nói đây là nghĩa duy nhất đúng (và "chống lại" là sai) thì hơi quá. Đúng hơn nên hiểu rằng Luther khai thác một nét nghĩa vốn có sẵn, để gọi tên điều ông thấy: một định chế đặt mình vào chỗ đáng lẽ chỉ thuộc về một mình Đấng Christ.

Ngọn lửa vượt khỏi tay Luther

Pawson giảng chủ yếu về Luther, vì Luther là người châm ngòi. Nhưng ngọn lửa nhanh chóng vượt khỏi tay ông. Chỉ trong một thế hệ, Cải Chánh đã tách ra thành nhiều dòng, mỗi dòng một thành phố, một nhà lãnh đạo, một điểm nhấn riêng. Có dòng hợp tác với nhau, có dòng cãi nhau gay gắt tới mức không bao giờ hàn gắn. Nếu chỉ nghe về một mình Luther, ta sẽ tưởng Cải Chánh là một khối thống nhất. Nó không phải vậy.

Không Chỉ Một Người

Những gương mặt khác của Cải Chánh

Pawson giảng chủ yếu về Luther, vì Luther là người châm ngòi. Nhưng ngọn lửa nhanh chóng vượt khỏi tay ông. Trong vòng một thế hệ, Cải Chánh đã tách thành nhiều dòng, mỗi dòng một thành phố, một nhà lãnh đạo, một nhấn mạnh riêng.

Huldrych Zwingli

Huldrych Zwingli

1484–1531 · Zurich · Cải Cách

Nhà cải chánh Thuỵ Sĩ, độc lập với Luther. Tiệc Thánh chỉ là biểu tượng tưởng niệm. Tử trận tại Kappel.

John Calvin

John Calvin

1509–1564 · Geneva · Cải Cách

Người Pháp hệ thống hoá thần học Tin Lành trong bộ “Yếu Chỉ”. Nhấn mạnh chủ quyền tối cao và tiền định của Chúa.

Philipp Melanchthon

Philipp Melanchthon

1497–1560 · Wittenberg · Luther

Cộng sự điềm tĩnh của Luther, tác giả chính Tín Điều Augsburg (1530).

Thomas Cranmer

Thomas Cranmer

1489–1556 · Canterbury · Anh Giáo

Tổng Giám mục Canterbury, soạn Sách Kinh Nguyện Chung. Bị thiêu sống năm 1556.

John Knox

John Knox

c.1514–1572 · Edinburgh · Trưởng Lão

Học trò của Calvin, đem phong trào Trưởng Lão về Scotland.

Menno Simons

Menno Simons

1496–1561 · Hà Lan / Friesland · Anabaptist

Cựu linh mục, đem lại cho phong trào Tái Rửa một căn tính ôn hoà, bất bạo động. Phái Mennonite mang tên ông.

Jacobus Arminius

Jacobus Arminius

1560–1609 · Leiden · Hà Lan

Thách thức thuyết tiền định vô điều kiện của Calvin; khơi mào cuộc tranh luận dẫn tới Công đồng Dort.

Chân dung: tất cả public domain (Wikimedia Commons). Knox và Menno Simons là tranh khắc đời sau vì không còn chân dung đương thời.

Bản Đồ Động · Cải Chánh Lan Toả

Một mồi lửa lan khắp Châu Âu (1517–1600)

Bấm ▶ Chạy để xem Cơ Đốc giáo Tây Âu vỡ ra thế nào. Đất liền màu vàng là thế giới Công Giáo năm 1517; mỗi vùng đổi màu vào đúng năm một nhà cầm quyền chính thức lập hệ phái mới (mốc năm có nguồn). Kéo thanh trượt để tua tới lui.

1517152515271529153415391559156215661575160015171517 Luther đóng 95 Luận đề tại Wittenberg (Tuyển hầu quốc Sachsen).▶ Chạy❚❚
Công Giáo (nền năm 1517)Phái LutherPhái Cải Cách (Calvin/Zwingli)Anh GiáoPha trộn / thiểu số

Lưu ý: bản đồ tô theo hệ phái được nhà cầm quyền chính thức lập (cuius regio, eius religio, theo Hoà ước Augsburg 1555), không phải theo niềm tin của từng người dân; dân cư luôn pha trộn. Ranh giới các vùng chỉ mang tính tương đối và là những cột mốc tiêu biểu, không liệt kê hết mọi lãnh thổ. Nền bản đồ: Natural Earth (public domain), vẽ bằng Plotly.

Zwingli và cuộc chia rẽ về Tiệc Thánh. Ở Zurich, Huldrych Zwingli dẫn dắt một cuộc cải cách độc lập với Luther. Hai người đồng ý với nhau gần như mọi thứ, chỉ vấp một câu hỏi: điều gì xảy ra với bánh và rượu trong Tiệc Thánh? Tại Hội nghị Marburg (1529), họ thống nhất được 14 trên 15 điều khoản, rồi kẹt cứng ở điều cuối. Luther bám chặt vào chữ "LÀ" trong câu "Đây thân thể ta". Ông lấy phấn viết câu Hoc est corpus meum ("Đây LÀ thân thể ta") lên bàn và nhất quyết không nhượng bộ. Zwingli thì cho rằng đó chỉ là biểu tượng tưởng niệm. Họ không bắt tay nhau. Mặt trận Tin Lành thống nhất tan vỡ ngay từ đó. Đây là một minh họa đau đớn cho chính nguyên tắc "chân lý trước hiệp nhất", cho thấy ranh giới giữa việc bảo vệ chân lý và việc chia rẽ Hội Thánh mong manh đến nhường nào.

Calvin và Geneva. Một thế hệ sau, John Calvin, một người Pháp, hệ thống hóa toàn bộ thần học Tin Lành trong bộ Cơ Đốc Giáo Yếu Chỉ (Institutes), và biến Geneva thành một "trường học của Đấng Christ" mà cả Châu Âu gửi người đến học. Ông nhấn mạnh chủ quyền tối cao tuyệt đối của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi.

“Đây là thân thể ta”

Bốn cách hiểu Tiệc Thánh và sự chia rẽ tại Marburg

Không gì chia rẽ những người Tin Lành với nhau (và với Rome) sâu bằng một câu hỏi: điều gì xảy ra với bánh và rượu? Tại Hội nghị Marburg (1529), Luther và Zwingli đồng ý 14 trên 15 điều, nhưng vấp đúng câu này. Luther lấy phấn viết “Hoc est corpus meum” (“Đây LÀ thân thể ta”) lên bàn và không nhượng bộ. Mặt trận Tin Lành thống nhất tan vỡ ngay từ đó.

Công Giáo

Rome / Trent

Biến thể (Transubstantiation)

Bản thể bánh và rượu thực sự biến thành thân và huyết Đấng Christ; chỉ còn lại hình dạng bên ngoài.

Luther

Wittenberg

Hiện diện thật (“trong, với, dưới”)

Thân thể Christ hiện diện thật sự “trong, với và dưới” bánh và rượu, nhưng bánh vẫn là bánh. (Luther bác từ “consubstantiation”.)

Calvin

Geneva

Hiện diện thiêng liêng (bởi Thánh Linh)

Tín hữu thật sự nhận lãnh Đấng Christ, nhưng bởi đức tin và qua Thánh Linh nâng lòng họ lên với Christ đang ngự trên trời.

Zwingli

Zurich

Biểu tượng / Tưởng niệm

Bánh và rượu chỉ là dấu hiệu tưởng niệm. “Đây LÀ thân thể ta” nghĩa là “đây TƯỢNG TRƯNG cho thân thể ta”.

Từ trái (hiện diện thể chất nhất) sang phải (biểu tượng thuần tuý). Sự bất đồng này khiến phái Luther và phái Cải Cách không bao giờ hợp nhất trọn vẹn.

Hội nghị Marburg, 1529: Luther chỉ tay vào dòng chữ “Est” (“This IS my body”, Đây LÀ thân thể ta) mà ông viết bằng phấn trên bàn, đối diện Zwingli. Họ đồng ý 14/15 điều, nhưng chia rẽ vĩnh viễn ở điều cuối cùng về Tiệc Thánh.
Hội nghị Marburg, 1529: Luther chỉ tay vào dòng chữ “Est” (“This IS my body”, Đây LÀ thân thể ta) mà ông viết bằng phấn trên bàn, đối diện Zwingli. Họ đồng ý 14/15 điều, nhưng chia rẽ vĩnh viễn ở điều cuối cùng về Tiệc Thánh.August Noack, năm 1867 (chi tiết). Public domain, Wikimedia Commons.

Những người "cấp tiến" và cái giá của họ. Rồi có những người thấy cả Luther lẫn Zwingli vẫn chưa đi đủ xa. Nếu chỉ Kinh Thánh mới là thẩm quyền, họ hỏi, thì đâu là chỗ trong Tân Ước cho việc rửa tội cho trẻ sơ sinh? Tháng 1 năm 1525 tại Zurich, lần đầu tiên họ làm báp-têm cho người lớn đã tin, nên bị gọi là Anabaptist, tức người tái rửa. Họ chủ trương một Hội Thánh của những người tự nguyện tin, tách khỏi nhà nước, không cầm gươm, không thề nguyện. Về sau Menno Simons đem lại cho phong trào tan vỡ này một căn tính ôn hòa, bất bạo động, và tên "Mennonite" ra đời từ đó.

Cái giá họ phải trả thật khủng khiếp, mà lại do cả hai phía trút xuống. Cùng thời ấy, "Chiến tranh Nông dân" (1524–25) bùng nổ khi nông dân Đức dùng chính khẩu hiệu "chức tế lễ của mọi tín đồ" và "chỉ Kinh Thánh" để đòi quyền lợi. Đó là cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định, và ông đã phản ứng dữ dội, đứng hẳn về phía giới quý tộc.

Trang tựa “Mười Hai Điều Khoản” (1525), bản tuyên ngôn của nông dân Đức, viện dẫn “chức tế lễ của mọi tín đồ” và “chỉ Kinh Thánh” để đòi quyền lợi, một cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định.
Trang tựa “Mười Hai Điều Khoản” (1525), bản tuyên ngôn của nông dân Đức, viện dẫn “chức tế lễ của mọi tín đồ” và “chỉ Kinh Thánh” để đòi quyền lợi, một cách dùng mà Luther chưa bao giờ có ý định.In khuyết danh, năm 1525. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Ghi chú của Kit

Đây là một trong những sự thật đau lòng mà một bài viết trung thực không nên giấu. Người Anabaptist bị bách hại bởi cả Công Giáo lẫn các nhà Cải Chánh chính dòng. Ngay tại Zurich của Zwingli, việc tái rửa bị coi là trọng tội, và Felix Manz bị dìm chết trong sông Limmat ngày 5/1/1527, "người tử đạo Tin Lành đầu tiên chết dưới tay những người Tin Lành khác". Kiểu hành hình bằng cách dìm nước là một sự nhạo báng có tính toán nhắm vào "phép tái rửa". Còn về Chiến tranh Nông dân, Luther viết bài "Chống Bọn Nông Dân Cướp Bóc, Giết Người" (1525), giục các lãnh chúa "đâm, chém, giết" quân nổi loạn như giết chó dại; ước tính khoảng 100.000 nông dân đã chết. Geneva của Calvin cũng có vết nhơ riêng: nhà thần học phản Ba Ngôi Michael Servetus bị thiêu sống năm 1553 với sự tán thành của Calvin (ông chỉ xin đổi sang án chém cho "nhân đạo" hơn, nhưng bị từ chối). Và phải kể nốt vết nhơ nặng nhất. Cuối đời, Luther viết cuốn Về Người Do Thái Và Những Lời Dối Trá Của Họ (1543), kêu gọi đốt các hội đường Do Thái. Đó là một di sản độc hại về sau bị Đức Quốc Xã lợi dụng, và chính các giáo hội Lutheran ngày nay đã công khai bác bỏ. Các nhà cải chánh là những con người có thật, với những vết nhơ có thật, trong một thời đại bạo lực.

Calvin, Arminius, và cuộc chiến về tiền định. Một thế hệ nữa trôi qua, và chính nội bộ phái Cải Cách lại nứt ra vì một câu hỏi nhức nhối: trong sự cứu rỗi, Đức Chúa Trời làm tất cả (Chúa chọn ai thì người ấy được cứu), hay con người có phần cộng tác bằng đức tin tự do của mình? Nhà thần học Hà Lan Jacobus Arminius thách thức thuyết tiền định vô điều kiện của Calvin. Sau khi ông mất, các môn đệ soạn bản Kháng Nghị (Remonstrance) năm 1610 gồm năm điểm. Công đồng Dort (1618–19) nhóm lại, kết án phe Arminius, và định hình "Năm Điểm của Calvin", về sau được nhớ qua từ khóa TULIP.

Ai chọn ai?

Calvin và Arminius: Tiền định vs Tự do ý chí

Một thế hệ sau Luther, chính nội bộ Tin Lành nứt ra vì một câu hỏi nhức nhối: trong sự cứu rỗi, Chúa làm tất cả (monergism) hay Chúa và con người cùng cộng tác (synergism)? Công đồng Dort (1618–19) kết án phe Arminius và định hình “5 điểm Calvin”, về sau được nhớ qua từ khoá TULIP (một từ viết tắt của thế kỷ 20).

Calvin (Dort · TULIP)Arminius (Remonstrance)
Sự lựa chọnVô điều kiện, Chúa chọn theo ý muốn tối cao của Ngài.Có điều kiện, Chúa chọn những ai Ngài biết trước sẽ tin.
Sự chuộc tộiGiới hạn, Christ chết cách hữu hiệu cho riêng người được chọn.Phổ quát, Christ chết cho mọi người, chỉ hữu hiệu cho ai tin.
Bản chất con ngườiBại hoại toàn diện, không thể tự đến với Chúa.Bất lực nếu không có ân điển, cần ân điển mới tin được.
Ân điểnKhông thể cưỡng lại, ân điển của Chúa chắc chắn thành công.Có thể cưỡng lại, con người có thể chối từ ân điển.
Sự bền đỗNgười được chọn chắc chắn bền đỗ đến cùng.Bỏ ngỏ, cần nghiên cứu thêm (về sau: có thể sa ngã).

TULIP = Total depravity · Unconditional election · Limited atonement · Irresistible grace · Perseverance. Bản “Kháng Nghị” (Remonstrance, 1610) của phe Arminius có đúng 5 điểm đối lại.

Một thế kỷ bùng cháy

Cải Chánh lan ra thế nào (1517–1619)

Từ một tu sĩ ở một thị trấn Đức, trong một thế kỷ ngọn lửa đã lan tới Thuỵ Sĩ, Anh, Scotland, Hà Lan và buộc chính Rome phải tự cải tổ.

1517Luther đóng 95 Luận đề tại Wittenberg.
1523Zwingli công bố 67 Điều Khoản; Zurich cải cách.
1525Anabaptist đầu tiên làm báp-têm người lớn tại Zurich. Chiến tranh Nông dân (1524–25) lên đến đỉnh điểm.
1529Hội nghị Marburg: Luther và Zwingli chia rẽ về Tiệc Thánh.
1530Tín Điều Augsburg, văn kiện nền tảng phái Luther.
1534Henry VIII ly khai Rome; Giáo hội Anh ra đời. Kinh Thánh Đức trọn bộ của Luther.
1536Calvin xuất bản “Yếu Chỉ”; bắt đầu công cuộc ở Geneva.
1540Dòng Tên (Jesuits) được phê chuẩn, mũi nhọn phản Cải Chánh.
1545–63Công đồng Trent, Công Giáo định tín chống lại Cải Chánh.
1555Hoà ước Augsburg: “cuius regio, eius religio”, vua theo đạo nào, dân theo đạo ấy.
1560Knox đưa Cải Chánh Trưởng Lão về Scotland.
1618–19Công đồng Dort kết án phái Arminius; định hình 5 điểm Calvin.

Hai chiếc ghế còn lại: Rome và Constantinople

Pawson giảng từ chiếc ghế Tin Lành, rất mạnh mẽ và rõ ràng. Nhưng ngay chính ông cũng nói rằng những vấn đề của Cải Chánh "vẫn còn sống và chưa được giải quyết". Và cách tốt nhất để nghe cho đủ là kéo hai chiếc ghế còn lại đến ngồi cạnh.

Rome đáp lời: Công đồng Trent. Phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo là Công đồng Trent (1545–1563). Cần công bằng ở đây, vì người Tin Lành hay biếm họa Trent thành "đạo lập công". Thật ra Trent dạy rằng ân điển là bước khởi đầu Chúa ban không do công đức ("nếu bởi ân điển thì không còn bởi việc làm nữa"), nhưng con người phải cộng tác tự do với ân điển ấy, và đức tin phải là đức tin sống, kết hợp với đức ái và việc lành. Trent kết án sola fide theo nghĩa "chỉ đức tin, không cần gì thêm". Trent khẳng định Kinh Thánh cùng Truyền Thống (với "lòng tôn kính ngang nhau"), bảy bí tích, và thuyết biến thể. Về ân xá, thứ đã châm ngòi cho Luther, Trent không bãi bỏ ân xá, mà bãi bỏ việc mua bán ân xá bằng tiền, đúng cái mà 95 Luận đề nhắm tới. Mũi nhọn của cuộc chấn hưng này là Dòng Tên (Jesuits) của Ignatius de Loyola, được phê chuẩn năm 1540.

Câu chuyện chưa dừng ở thế kỷ 16. Năm 1999, Tuyên ngôn chung về Giáo lý Xưng Công Bình (JDDJ) giữa Công Giáo và Liên hiệp Lutheran Thế giới tuyên bố hai bên đạt được đồng thuận về những chân lý căn bản: "bởi ân điển… trong đức tin nơi công trình cứu chuộc của Đấng Christ, chứ không do công trạng nào của chúng ta, chúng ta được Chúa chấp nhận." Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 6 năm 2016, Giáo hoàng Francis nhận định "ý định của Luther không sai"; ông là "một nhà cải cách", dù "một số phương pháp có thể không đúng". Cuối năm ấy, ngày 31/10/2016, Francis cùng Liên hiệp Lutheran Thế giới đồng chủ trì lễ tưởng niệm chung 500 năm Cải Chánh tại Lund, Thụy Điển.

Công đồng Trent (1545–1563), phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo trước Cải Chánh: tái khẳng định Kinh Thánh CÙNG Truyền Thống, sự xưng công bình qua ân điển và cộng tác, bảy bí tích và thuyết biến thể.
Công đồng Trent (1545–1563), phản ứng giáo lý dứt khoát của Công Giáo trước Cải Chánh: tái khẳng định Kinh Thánh CÙNG Truyền Thống, sự xưng công bình qua ân điển và cộng tác, bảy bí tích và thuyết biến thể.Elia Naurizio, năm 1633 (Bảo tàng Buonconsiglio, Trento). Public domain, Wikimedia Commons.

Constantinople đáp lời: một sự im lặng dứt khoát. Chiếc ghế thứ ba là Chính Thống Giáo Đông phương, thường bị cả Tin Lành lẫn Công Giáo bỏ quên. Trong khoảng 1573–1581, các nhà thần học Lutheran ở Tübingen gửi bản Tín Điều Augsburg (dịch sang tiếng Hy Lạp) cho Thượng phụ Jeremiah II của Constantinople, hy vọng tìm được điểm chung. Ngài trả lời bằng ba lá thư, lần lượt bác bỏ những điểm cốt lõi của Tin Lành. Ngài bác sola fide ("Hội Thánh đòi một đức tin sống, được tỏ ra bằng việc lành") và bác sola scriptura (không được giải nghĩa Kinh Thánh tách khỏi các Giáo Phụ), rồi lịch sự chấm dứt trao đổi.

Với Chính Thống Giáo, sự cứu rỗi không phải là một phán quyết pháp lý (được tuyên là công bình), mà là Theosis, tức sự thần hóa, một tiến trình tham dự thật sự vào sự sống của Đức Chúa Trời. Đây là synergy, tức sự cộng tác: "Chúa không cứu một người trái với ý muốn của người ấy." Vì thế Chính Thống Giáo coi chính cuộc tranh cãi "đức tin đối lại việc làm" là một cách đặt vấn đề mang tính pháp lý của phương Tây mà họ chưa bao giờ chấp nhận. Về sau, khi một Thượng phụ (Cyril Lucaris) soạn một bản tuyên tín nghiêng hẳn về Calvin, chính Chính Thống Giáo đã kết án nó tại Công đồng Jerusalem (1672). Nói cách khác, Chính Thống Giáo đã chính thức từ chối cả Luther lẫn Calvin.

Ba Chiếc Ghế

Cuộc tranh luận có ba phía, không phải hai

Pawson giảng từ ghế Tin Lành. Nhưng để nghe đủ các bề, cần đặt cạnh nó hai chiếc ghế còn lại. Điều bất ngờ: cả ba đều dạy rằng ân điển là điều cần thiết và không do công đức mà có, nên bức biếm hoạ “Tin Lành tin ân điển, Công Giáo/Chính Thống tin lập công” là sai với cả ba. Lằn ranh thật nằm ở thẩm quyền và ở cách hiểu sự xưng công bình.

Tin Lành (Cải Chánh)Công Giáo (Rome)Chính Thống Giáo (Đông phương)
Thẩm quyềnChỉ Kinh Thánh (Sola Scriptura) đứng trên mọi truyền thống.Kinh Thánh VÀ Truyền Thống Tông Đồ, “với lòng tôn kính ngang nhau” (Trent, 1546).Kinh Thánh nằm TRONG Truyền Thống Thánh; Hội Thánh sinh ra và công nhận Kinh Thánh.
Sự xưng công bìnhPháp lý, được TUYÊN là công bình, sự công bình của Christ được kể cho ta (imputed).Ân điển thật sự BIẾN ĐỔI ta; đức tin kết hợp với đức ái và việc lành (Trent, 1547).Theosis (thần hoá), tham dự vào sự sống của Chúa; đức tin và việc làm hoà quyện.
Ân điển và con ngườiĐơn tác (monergism), chỉ Chúa cứu; con người thụ động nhận lãnh.Ân điển khởi đầu, không do công đức, rồi con người mới cộng tác tự do.Synergy (cộng tác), “Chúa không cứu ai trái với ý muốn của người ấy.”
Điểm đồng thuậnÂn điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có.Ân điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có (JDDJ, 1999).Ân điển là điều cần thiết, và không do công đức mà có.

Chính Thống Giáo đã chính thức từ chối CẢ Luther (thư từ với Thượng phụ Jeremiah II, 1573–81) LẪN Calvin (Công đồng Jerusalem, 1672).

Vậy thì, tại sao còn phải chiến đấu?

Đến đây nhiều người sẽ hỏi câu mà chính Pawson đặt ra ở cuối bài giảng. Tại sao còn phải đào xới những chuyện giáo lý này lên? Tại sao không thỏa hiệp để đổi lấy hòa bình và hiệp nhất, khi ai cũng thân thiện và cùng tôn thờ một Chúa? Chẳng phải đây chỉ là chuyện cãi vã tủn mủn về giáo lý, là quay về thời tăm tối hay sao?

Câu trả lời của Pawson thẳng và nặng: Bởi vì sự cứu rỗi của những linh hồn bất tử đang bị đe dọa. Nếu bạn nói với một người rằng phép báp-têm bằng nước tự động cứu họ, bạn đang đẩy họ vào chỗ hư mất. Nếu bạn nói với họ rằng làm việc lành sẽ đưa họ lên thiên đàng, bạn đang chỉ cho họ một con đường sai. Đây không phải là niềm kiêu hãnh tôn giáo. Đây là vì không có gì quan trọng hơn sự thật đưa con người đến sự sống đời đời. Một sự bình an giả tạo trên đất không đáng đánh đổi bằng điểm đến vĩnh cửu của hàng ngàn linh hồn.

Nhưng đây là chỗ Pawson khiến ta phải dừng lại. Trận tuyến hôm nay không còn nằm giữa người Tin Lành và người Công Giáo nữa. Pawson nói thẳng: giờ đây trận tuyến nằm giữa một bên là những người tin theo Phúc Âm (evangelical), và bên kia là nhiều người Tin Lành cùng người Công Giáo, một lằn ranh cắt ngang qua mọi nhãn hệ phái. Ông dẫn một cuốn sách của một giáo sư người Pháp, Những Người Thừa Kế Cải Chánh, đặt câu hỏi: ai mới là người thừa kế đích thực của Martin Luther? Không phải "người Tin Lành" nói chung, mà là những ai, dù mang nhãn gì, cũng đặt Kinh Thánh lên trên mọi sự và đặt Đấng Christ lên trên mọi người. Vì thế, Pawson nói, những ai chỉ bắn về một hướng thì đã lỗi thời. Ông nói rõ: "Tôi không chống người Công Giáo, cũng không chống người Tin Lành. Tôi chống các chủ nghĩa, chống các hệ thống. Tôi muốn yêu thương con người, dù họ là ai." Ông kể mình đã thấy trong lòng dâng lên một tình yêu thật cho các giáo sư Công Giáo mà ông trò chuyện, yêu họ như những con người.

✍︎Ghi chú của Kit

Bối cảnh, để khỏi hiểu lầm. Pawson giảng bài này năm 1967, ngay sau khi Công đồng Vatican II vừa kết thúc (1962–1965), và giữa lúc thần học tự do (liberal theology) đã lan rộng gần một thế kỷ trong các giáo hội Tin Lành dòng chính. Nhiều nơi khi ấy công khai nghi ngờ thẩm quyền Kinh Thánh, phép lạ, hay sự phục sinh thân xác của Đấng Christ. Vì thế, khi ông nói trận tuyến nay nằm giữa "người tin theo Phúc Âm" và "nhiều người Tin Lành cùng người Công Giáo", ông không có ý ghét bỏ ai. Ông đang nói về một xác tín: có đặt Kinh Thánh trên hết và Đấng Christ trên hết hay không. Một tín hữu Tin Lành đã bỏ chính cái cốt lõi ấy thì, theo ông, không còn là "người thừa kế thật của Luther". Ở đây có một điều dễ gây bối rối: chính những người evangelical cũng người Tin Lành (Protestant), vậy sao Pawson lại đặt "evangelical" đối lại với "nhiều người Tin Lành"? Là vì ông dùng hai chữ theo hai nghĩa khác nhau. "Evangelical" chỉ một xác tín (Kinh Thánh và Đấng Christ trên hết), còn "Tin Lành" ở vế kia chỉ là một cái nhãn hệ phái, có thể bao gồm cả những người theo thần học tự do đã đánh mất đúng xác tín ấy. (Trong tiếng Việt, "Tin Lành" là từ quen dùng để dịch "Protestant" nói chung.) Câu ông dẫn lấy từ cuốn The Heirs of the Reformation (Jacques de Senarclens, SCM Press, 1963); de Senarclens là nhà thần học Cải Cách người Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, dạy ở Geneva, nên cách Pawson gọi ông là "giáo sư người Pháp" hơi thiếu chính xác. Chính Pawson cũng nhấn mạnh ông "chống hệ thống, không chống con người". Muốn nghe đủ các bề, kể cả cách Công Giáo và Chính Thống Giáo tự trình bày và những điểm hai bên thật sự hội tụ (Tuyên ngôn JDDJ 1999), xin xem lại phần "Hai chiếc ghế còn lại: Rome và Constantinople" ở trên.

Không thầy tế lễ nào ngoài Đấng Christ, không đại diện nào ngoài Đức Thánh Linh. Hãy cất mắt khỏi mọi người khác. Khi von Staupitz hỏi Luther sẽ lấy gì thay cho Mary, các thánh, ảnh tượng và việc đền tội, ông đáp: Đức Chúa Jêsus Christ. Con người chỉ cần một mình Đức Chúa Jêsus Christ.

Đó là lý do Pawson tạ ơn Chúa vì Martin Luther, vì sự lương thiện của ông, vì lòng can đảm dám đứng một mình cho điều ông biết là đúng và thật. Và ông cầu xin Chúa dấy lên thêm nhiều người nữa, những người sẽ trong tình yêu thương mà công bố chân lý, và nói: Đây là lập trường của tôi, tôi không thể làm khác. Làm trái lương tâm là điều không an toàn cũng chẳng lương thiện. Lương tâm tôi bị Lời Chúa cầm giữ.

Lương tâm trước thẩm quyền. Chân lý trước hiệp nhất. Kinh Thánh trước truyền thống. Đức tin trước việc làm. Ân điển trước bí tích. Tín hữu trước giáo sĩ, và biến mọi tín hữu thành thầy tế lễ. Và trên hết: Đấng Christ trước Hội Thánh, trước mọi người và mọi sự khác.