文章資料表

1 Chronicles

章節 12

Catholic · DRA

比較翻譯

兩欄都遵循同一本書、章節和詩句。

DRADouay-Rheims 1899 (Catholic)主要譯本

1Now these are they that came to David to Siceleg, while he yet fled from Saul the son of Cia, and they were most valiant and excellent warriors,

2Bending the bow, and using either hand in hurling stones with slings, and shooting arrows: of the brethren of Saul of Benjamin.

3The chief was Ahiezer, and Joas, the sons of Samaa of Gabaath, and Jaziel, and Phallet the sons of Azmoth, and Beracha, and Jehu an Anathothite.

4And Samaias of Gabaon, the stoutest amongst the thirty and over the thirty; Jeremias, and Jeheziel, and Johanan, and Jezabad of Gaderoth;

5And Eluzai, and Jerimuth, and Baalia, and Samaria, and Saphatia the Haruphite;

6Elcana, and Jesia, and Azareel, and Joezer, and Jesbaam of Carehim:

7And Joela, and Zabadia the sons of Jeroham of Gedor.

8From Gaddi also there went over to David, when he lay hid in the wilderness most valiant men, and excellent warriors, holding shield and spear: whose faces were like the faces of a lion, and they were swift like the roebucks on the mountains.

9Ezer the chief, Obdias the second, Eliab the third,

10Masmana the fourth, Jeremias the fifth.

11Ethi the sixth, Eliel the seventh,

12Johanan the eighth, Elzebad the ninth,

13Jerenias the tenth, Machbani the eleventh,

14These were of the sons of Gad, captains of the army: the least of them was captain over a hundred soldiers, and the greatest over a thousand.

15These are they who passed over the Jordan in the first month, when it is used to how over its banks: and they put to flight all that dwelt in the valleys both toward the east and toward the west.

16And there came also of the men of Benjamin, and of Juda to the hold, in which David abode.

17And David went out to meet them, and said: If you are come peaceably to me to help me, let my heart be joined to you: but if you plot against me for my enemies whereas I have no iniquity in my hands, let the God of our fathers see, and judge.

18But the spirit came upon Amasai the chief among thirty, and he said: We are thine, O David, and for thee, O son of Isai: peace, peace be to thee, and peace to thy helpers. For thy God helpeth thee. So David received them, and made them captains of the band.

19And there were some of Manasses that went over to David, when he came with the Philistines against Saul to fight: but he did not fight with them: because the lords of the Philistines taking counsel sent him back, saying: With the danger of our heads he will return to his master Saul.

20So when he went back to Siceleg, there fled to him of Manasses, Ednas and Jozabad, and Jedihel, and Michael, and Ednas, and Jozabad, and Eliu, and Salathi, captains of thousands in Manasses.

21These helped David against the rovers: for they were all most valiant men, and were made commanders in the army.

22Moreover day by day there came some to David to help him till they became a great number, like the army of God.

23And this is the number of the chiefs of the army who came to David, when he was in Hebron, to transfer to him the kingdom of Saul, according to the word of the Lord.

24The sons of Juda bearing shield and spear, six thousand eight hundred well appointed to war.

25Of the sons of Simeon valiant men for war, seven thousand one hundred.

26Of the sons of Levi, four thousand six hundred.

27And Joiada prince of the race of Aaron, and with him three thousand seven hundred.

28Sadoc also a young man of excellent disposition, and the house of his father, twenty-two principal men.

29And of the sons of Benjamin the brethren of Saul, three thousand: for hitherto a great part of them followed the house of Saul.

30And of the sons of Ephraim twenty thousand eight hundred, men of great valour renowned in their kindreds.

31And of the half tribe of Manasses, eighteen thousand, every one by their names, came to make David king.

32Also of the sons of Issachar men of understanding, that knew all times to order what Israel should do, two hundred principal men: and all the rest of the tribe followed their counsel.

33And of Zabulon such as went forth to battle, and stood in array well appointed with armour for war, there came fifty thousand to his aid, with no double heart.

34And of Nephtali, a thousand leaders: and with them seven and thirty thousand, furnished with shield and spear.

35Of Dan also twenty-eight thousand six hundred prepared for battle.

36And of Aser forty thousand going forth to fight, and challenging in battle.

37And on the other side of the Jordan of the sons of Ruben, and of Gad, and of the half of the tribe of Manasses a hundred and twenty thousand, furnished with arms for war.

38All these men of war well appointed to fight, came with a perfect heart to Hebron, to make David king over all Israel: and all the rest also of Israel, were of one heart to make David king.

39And they were there with David three days eating and drinking: for their brethren had prepared for them.

40Moreover they that were near them even as far as Issachar, and Zabulon, and Nephtali, brought leaves on asses, and on camels, and on mules, and on oxen, to eat: meal, figs, raisins, wine, oil, and oxen, and sheep in abundance, for there was joy in Israel.

本翻譯不包含這段文字。

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)比較翻譯

1Đây là những người đã tìm đến với ông Đa-vít tại Xích-lắc khi ông còn buộc phải sống xa vua Sa-un, con ông Kít. Họ thuộc số những anh hùng đã từng tham chiến,

2Trong các anh em của vua Sa-un người Ben-gia-min,

3đứng đầu là A-khi-e-de, rồi Giô-át con của Sơ-ma-a người Ghíp-a, Giơ-di-ên và Pe-lét con của Át-ma-vét, Bơ-ra-kha, Giê-hu người A-na-thốt,

4Gít-ma-gia người Ghíp-ôn, anh hùng trong Nhóm Ba Mươi và chỉ huy nhóm này ;

5Giếc-mơ-gia, Gia-kha-di-ên, Giô-kha-nan, Giô-da-vát người Gơ-đê-ra,

6En-u-dai, Giơ-ri-mốt, Bơ-an-gia, Sơ-mác-gia-hu, Sơ-phát-gia-hu người Kha-ríp,

7En-ca-na, Gít-si-gia-hu, A-dác-ên, Giô-e-de, Gia-sóp-am, con cháu của Cô-rắc,

8Giô-ê-la và Dơ-vát-gia con của Giơ-rô-kham người Gơ-đo.

9Trong hàng con cháu ông Gát, một số người ly khai đi theo vua Đa-vít vào mật khu trong sa mạc. Họ là những anh hùng dũng sĩ, những người thiện chiến, sử dụng thành thạo khiên thuẫn và giáo mác, tướng mạo như sư tử, lanh lẹ như linh dương trên núi.

10Đứng đầu là Ê-de, thứ đến là Ô-vát-gia, thứ ba là Ê-li-áp,

11thứ tư là Mít-man-na, thứ năm là Giếc-mơ-gia,

12thứ sáu là Át-tai, thứ bảy là Ê-li-ên,

13thứ tám là Giô-kha-nan, thứ chín là En-da-bát,

14thứ mười là Giếc-mơ-gia-hu, thứ mười một là Mác-ban-nai.

15Đó là những người thuộc hàng con cháu ông Gát, các vị chỉ huy quân đội, người kém thì một mình cũng đánh nổi trăm quân, người giỏi thì một ngàn.

16Họ là những người đã vượt sông Gio-đan vào tháng đầu, khi nước sông tràn ra hai bên bờ ; họ đã đánh đuổi tất cả những dân cư sống trong các thung lũng, phía đông cũng như phía tây.

17Trong hàng con cháu Ben-gia-min và Giu-đa cũng có những người vào mật khu với ông Đa-vít.

18Ông ra gặp và ngỏ lời với họ : “Nếu vì hiếu hoà mà các anh đến trợ lực cho tôi, tôi sẽ một lòng sống chết với các anh ; còn nếu các anh manh tâm phản tôi để nộp cho địch, dù tay này không làm gì đáng trách, thì xin Thiên Chúa của cha ông chúng ta chứng giám và xét xử công minh !”

19Ông Đa-vít kết nạp và đặt họ vào cấp chỉ huy quân đội.

20Từ Mơ-na-se cũng có những người quy thuận ông Đa-vít khi ông cùng với quân Phi-li-tinh đánh vua Sa-un, nhưng thật ra ông không tiếp tay cho họ, vì các vương công Phi-li-tinh tính chuyện thải hồi ông, đã bàn với nhau rằng : “Biết đâu hắn sẽ lấy đầu chúng ta đem về quy thuận Sa-un chủ hắn !”

21Vậy khi ông lui về Xích-lắc thì có những người thuộc chi tộc Mơ-na-se đào ngũ đến với ông, đó là : Át-nác, Giô-da-vát, Giơ-đi-a-ên, Mi-kha-ên, Giô-da-vát, Ê-li-hu, Xi-lơ-thai, là những người chỉ huy đơn vị ngàn quân Mơ-na-se.

22Những người này quả đã tăng cường cho ông Đa-vít và quân đội của ông, vì tất cả đều là những anh hùng dũng sĩ và đã trở thành các tướng lãnh trong quân đội.

23Thật ra ngày nào cũng có người đến tăng viện cho ông Đa-vít, làm cho lực lượng của ông trở nên lớn mạnh như một lực lượng thần thánh.

24Đây là nhân số những lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu để đến với ông Đa-vít tại Khép-rôn để chuyển giao cho ông vương quyền của vua Sa-un theo lệnh ĐỨC CHÚA đã truyền :

25Con cháu Giu-đa mang khiên cầm giáo : sáu ngàn tám trăm quân vũ trang sẵn sàng chiến đấu ;

26trong số con cháu Si-mê-ôn : bảy ngàn một trăm anh hùng dũng sĩ sẵn sàng chiến đấu ;

27trong số con cháu Lê-vi : bốn ngàn sáu trăm quân ;

28ông Giơ-hô-gia-đa, thủ lãnh nhà A-ha-ron, và cùng với ông : ba ngàn bảy trăm quân ;

29ông Xa-đốc, một anh hùng dũng sĩ trẻ trung, và gia tộc ông : hai mươi hai người chỉ huy ;

30trong số con cháu Ben-gia-min, anh em vua với vua Sa-un : ba ngàn quân, cho đến bấy giờ đa số những người ấy vẫn chu toàn nhiệm vụ đối với nhà Sa-un ;

31trong số con cháu Ép-ra-im : hai mươi ngàn tám trăm anh hùng dũng sĩ, những người lừng danh trong gia tộc mình ;

32trong phân nửa chi tộc Mơ-na-se : mười tám ngàn quân được chỉ định đích danh để tới phong vương cho ông Đa-vít ;

33trong số con cháu ông Ít-xa-kha am hiểu thời cuộc để biết Ít-ra-en phải làm gì : hai trăm thủ lãnh và tất cả anh em đồng tộc dưới quyền họ ;

34trong chi tộc Dơ-vu-lun : năm mươi ngàn chiến binh sẵn sàng lâm trận, biết sử dụng mọi thứ vũ khí và dũng cảm chiến đấu, không sờn lòng ;

35trong chi tộc Náp-ta-li : một ngàn chỉ huy và cùng với họ ba mươi bảy ngàn người mang khiên cầm giáo ;

36trong số người thuộc tộc Đan : hai mươi tám ngàn sáu trăm quân sẵn sàng lâm trận ;

37trong chi tộc A-se : bốn mươi ngàn chiến binh sẵn sàng lâm trận ;

38từ bên kia sông Gio-đan, trong số người thuộc chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát và một nửa chi tộc Mơ-na-se : một trăm hai mươi tám ngàn chiến binh biết sử dụng mọi thứ vũ khí.

39Tất cả những người ấy đều là quân thiện chiến, sẵn sàng chiến đấu trong hàng ngũ một cách dũng cảm ; họ đến Khép-rôn với tấm lòng trung nghĩa để tôn ông Đa-vít làm vua cai trị toàn thể Ít-ra-en ; tất cả phần còn lại của Ít-ra-en cũng một lòng như vậy.

40Anh em họ quả đã chuẩn bị cho họ tất cả ;

41từ những người ở gần đó đến những kẻ ở mãi Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun và Náp-ta-li cũng chở lương thực về bằng lừa, lạc đà, la, bò : nào bột, nào bánh vã sấy, rồi nho khô, rượu, dầu, bò, chiên, nhiều vô kể. Cả Ít-ra-en liên hoan tưng bừng.

經文已複製到剪貼簿