Bỏ qua nội dung chính
Tập I · Tạp Chí Chiêm Niệm
RSS
QUILLIN

Tạp Chí Biên Khảo Tĩnh Lặng

130 phút đọcKit

Lịch Sử Hội Thánh: Phần 6 – Tương Lai Hội Thánh, Và Sự Trở Lại Của Đấng Christ

Hai bài giảng khép lại loạt History of the Church của David Pawson: một tiên đoán về nơi Hội Thánh sẽ đi, và một cuộc tranh luận về cách Đấng Christ sẽ trở lại, điều chính Pawson biết trước sẽ khiến vài người khó chịu

Có sẵn bằng ngôn ngữ:English →
Lịch Sử Hội Thánh: Phần 6 – Tương Lai Hội Thánh, Và Sự Trở Lại Của Đấng Christ

Ghi chú: Phần này gộp lại hai bài giảng cuối cùng trong loạt History of the Church mười một phần của David Pawson: The Church in the Future (42,1 phút, Phần 10 trong danh mục của chính ông) và The Return of Jesus (74,9 phút, Phần 11, bài cuối cùng). Khác với Phần 4 và Phần 5, đây không phải do tôi tự gom các bài giảng rời rạc lại. Hai bài này vốn dĩ đã là một cặp liền mạch: bài thứ nhất phác thảo tương lai Hội Thánh ở ba tầng (gần, trung hạn, và vĩnh cửu), rồi dừng lại đúng điểm nhạy cảm nhất là thứ tự giữa sự "cất lên" (rapture) và "đại nạn" (tribulation), kèm lời giao hẹn "tôi sẽ đụng chạm đến vài chỗ đau". Bài thứ hai, được giảng có lẽ chỉ vài tuần sau đó trong cùng loạt bài tối Chúa Nhật ở Millmead Baptist Church, Guildford, chính là lúc ông đào sâu trọn vẹn vào chủ đề gai góc ấy.

Đây cũng là phần mà chính Pawson thừa nhận là dễ gây tranh cãi nhất. Ông trình bày một lập trường thần học rất rõ ràng: Hội Thánh sẽ bước qua cơn đại nạn trước khi Đấng Christ trở lại, chứ không có một cuộc "cất lên bí mật" nào diễn ra trước đó, và ông cũng nói thẳng rằng nhiều Cơ Đốc nhân chân thành có cái nhìn khác. Tôi giữ nguyên lập trường ấy như quan điểm riêng của Pawson, không xem đó là một sự thật lịch sử đã ngã ngũ, đồng thời ở những chỗ cần thiết, tôi bổ sung thêm góc nhìn của Công giáo, Chính Thống giáo, cũng như bức tranh đa dạng trong nội bộ giới Tin Lành hiện nay.

Trước khi bắt đầu: một bài giảng, hai câu hỏi

Phần 5 đã dừng lại ở mốc năm 1968, giữa bóng tối của hai cuộc thế chiến và ba trào lưu lớn định hình thế kỷ 20. Hai bài giảng khép lại loạt bài của Pawson mở ra câu hỏi tự nhiên kế tiếp: vậy rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu? Bài đầu tiên nhìn về tương lai của Hội Thánh. Bài thứ hai bàn về cách Đấng Christ sẽ trở lại, và cách Hội Thánh nên chuẩn bị để đón đợi ngày ấy.


PHẦN MỘT: TƯƠNG LAI HỘI THÁNH

Pawson mở đầu bài giảng bằng một câu hỏi vừa hóm hỉnh vừa gợi nhiều suy nghĩ: Hội Thánh lúc này đang ở tình trạng "nửa vơi" hay "nửa đầy"? Ông nhắc đến cuốn Tân Ước Good News for Modern Man (do Robert Bratcher dịch cho Hội Kinh Thánh Hoa Kỳ), mà theo lời ông là "xuất bản hơn một năm trước… đã bán được chín triệu rưỡi bản… với tốc độ 13.000 bản mỗi ngày", như một minh chứng rằng con người vẫn khao khát đón nhận "tin lành" giữa một thế giới ngập tràn tin dữ.

✍︎Định niên bài giảng

Bản Tân Ước Good News for Modern Man (Today's English Version) trên thực tế được Hội Kinh Thánh Hoa Kỳ phát hành vào tháng 9/1966, theo xác nhận từ hai nguồn độc lập. Cụm từ "hơn một năm trước" cho thấy bài giảng này diễn ra sớm nhất vào khoảng cuối năm 1967. Về con số "chín triệu rưỡi bản, 13.000 bản/ngày" mà Pawson nhắc đến, tôi không tìm thấy nguồn tư liệu nào xác nhận. Số liệu được ghi chép chính thức là 5,5 triệu bản trong năm đầu tiên (khoảng tháng 9/1967), và đạt hơn 30 triệu bản tích luỹ trong 5 năm đầu (khoảng năm 1971), đưa tác phẩm này thành cuốn sách bìa mềm bán chạy nhất mọi thời đại vào tháng 5/1971. Vì vậy, số liệu của Pawson nên được hiểu là con số ông tự ước tính từ phía mình, chưa có kiểm chứng độc lập, chứ không phải sự kiện lịch sử đã được khẳng định.
Ông cũng nhắc đến "buổi bế mạc chiến dịch Billy Graham năm ngoái tại Wembley với 120.000 Cơ Đốc nhân". Chiến dịch Greater London Crusade thực chất diễn ra từ ngày 1/6 đến 2/7/1966 tại Earl's Court, và buổi bế mạc được dời sang sân Wembley vào ngày 2/7/1966 (chứ không phải 22/5). Tạp chí Christianity Today thời đó tường thuật: "khoảng 86.000 người vào được sân Wembley"; các tài liệu nhìn lại sau này từ chính tổ chức Billy Graham làm tròn thành "95.000" hoặc "hơn 94.000" người bên trong sân, cộng thêm khoảng 8.000 người đứng ngoài vì hết chỗ. Ngay cả khi cộng dồn một cách hào phóng nhất thì tổng số cũng chỉ khoảng 102.000 đến 103.000 người, vẫn thấp hơn con số 120.000 của Pawson chừng một phần tư đến một phần ba.
Ghép các manh mối lại gồm mốc phát hành GNMM (sớm nhất khoảng tháng 10/1967), sự kiện Wembley "năm ngoái" (phù hợp với bất kỳ thời điểm nào trong năm 1967), cùng việc bài giảng trước đó ("1900–1968") đã được định niên vào năm 1967, thời điểm hợp lý nhất cho bài giảng này là cuối năm 1967, nằm trọn trong giai đoạn Pawson làm mục sư tại Gold Hill Baptist Church (1961–1968, theo Wikipedia) trước khi ông chuyển về Millmead ở Guildford.
Nguồn: bible-researcher.com/tev.html; thewayofimprovement.blog (25/5/2016); Christianity Today, "London Crusade Produces Historic Climax" (7/1966); billygrahamlibrary.org; Wikipedia, "David Pawson".

Ông đọc ba phân đoạn Kinh Thánh làm nền cho bài giảng: 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4 (tiếng loa vang lên và người chết trong Đấng Christ sống lại trước), Khải Huyền 7 (đoàn người đông không đếm xuể bước ra từ cơn đại nạn), cùng Khải Huyền 20–22 (thời kỳ ngàn năm bình an và trời mới đất mới). Sau đó, ông trích lại lời của Gamaliel trong sách Công Vụ: "Nếu mưu định hay công việc này là bởi loài người, thì sẽ tự hủy diệt; nhưng nếu bởi Đức Chúa Trời đến, thì các ngươi không thể hủy diệt được." Đó là câu Kinh Thánh ông dùng làm điểm tựa cho cả bài nói: không áp đặt hay gượng ép tương lai phải diễn ra theo ý mình, mà chỉ chăm chú nhận ra hướng đi mà nó đang hướng tới.

Albrecht Dürer, “Bốn Kỵ Sĩ Khải Huyền”, khoảng 1497–1498, khắc gỗ trong bộ Apocalypsis cum Figuris minh hoạ sách Khải Huyền.
Albrecht Dürer, “Bốn Kỵ Sĩ Khải Huyền”, khoảng 1497–1498, khắc gỗ trong bộ Apocalypsis cum Figuris minh hoạ sách Khải Huyền.Albrecht Dürer, khoảng 1497–1498. Public domain, Wikimedia Commons.

I. Tương lai gần: những điều ông đoán, và những điều đã xảy ra khác đi

Pawson chia những dự phóng của mình thành hai mảng: niềm tin và nếp sống thực hành. Về nếp sống, ông đưa ra bốn dự đoán cụ thể.

Thứ nhất, Hội Thánh sẽ không bao giờ quy về một tổ chức duy nhất trong dòng lịch sử. Ông không kỳ vọng điều đó, và cũng không tin nó có thể xảy ra trên thực tế.

Thứ hai, Hội Thánh sẽ bớt phụ thuộc vào thể chế và hàng giáo phẩm. Ông nói: "Cơ Đốc giáo tương lai sẽ là một Cơ Đốc giáo phi chính thức… có thể mọc lên khắp nơi một cách tự phát trong từng gia đình, nơi làm việc, và dưới đủ mọi hình thức khác nhau."

Thứ ba, trung tâm lãnh đạo Hội Thánh sẽ dịch chuyển từ Bắc bán cầu sang Nam bán cầu. "Các hội thánh vốn giữ vai trò truyền thống là người sai phái và đem tin lành đi trao gửi sẽ cần phải trở thành người đón nhận. Điều này chắc chắn sẽ dạy cho họ sự khiêm nhường rất lớn." Ông minh hoạ bằng một đoạn băng thu âm mở trong buổi nhóm tối thứ Hai trước đó, ghi lại tiếng hát của các tín hữu ở Paraguay: dù "không có nhà thờ sang trọng, cũng chẳng có nguồn tài chính dồi dào như chúng ta", họ lại sở hữu "một sức sống khiến chúng ta phải ao ước".

Thứ tư, xét về niềm tin, ông quay lại mô hình ba nhóm từng nhắc ở bài trước (Công giáo, Tự do, và Tin Lành) để dự đoán rằng khối trung dung gồm Anh giáo, Trưởng Lão, Giám Lý và Giáo đoàn tự trị sẽ "xích lại gần nhau hơn rất nhiều trong 20 năm tới… giống như những gì đã diễn ra tại Canada, Nam Ấn, và đang được xúc tiến ở Pakistan". Ngay tại nước Anh thời điểm đó, Anh giáo và Giám Lý cũng "đang ngồi lại đối thoại với nhau". Ông mượn lời của Malcolm Muggeridge khi ví phong trào hợp nhất này như "một nhóm người say phải bám chặt lấy nhau mới đứng vững", cùng câu nói của một giáo sư lịch sử Hội Thánh giấu tên tại Đại học Yale: "chúng ta không thật sự chắc mình tin điều gì, nhưng ít ra hãy cùng nhau không-tin."

Trọng Tâm Dân Số Cơ Đốc Nhân Đang Dịch Chuyển

Cơ Đốc nhân thế giới sống ở đâu, 1910–2020

0%20%40%60%80%1910197020202050

Xám = phần trăm Cơ Đốc nhân thế giới sống ở Bắc bán cầu (Âu + Bắc Mỹ). Vàng = Nam bán cầu (Phi, Á, Mỹ Latinh). Nét đứt sau 2020 là dự phóng của Pew Research (2025). Năm 1970, đúng lúc Pawson giảng, Bắc bán cầu vẫn còn chiếm đa số (59%), điều ông tiên đoán chưa xảy ra, còn cách khoảng một thập niên rưỡi nữa.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Cơ Đốc giáo Toàn cầu (Gordon-Conwell), World Christian Database; Pew Research Center, “The Future of World Religions” (2015) và cập nhật 2025.

✍︎Dự đoán chuyển dịch Bắc - Nam

Đây là dự đoán sâu sắc và ấn tượng nhất trong toàn bộ bài giảng, xuất hiện sớm hơn hẳn phần lớn các công trình nghiên cứu thường được ghi nhận là đã phổ biến ý niệm này. Những quan sát định tính, cho rằng các hội thánh non trẻ ở châu Phi, châu Á hay Mỹ Latinh có phần sống động hơn các cộng đồng phương Tây già cỗi, vốn đã rải rác xuất hiện từ giữa thập niên 1950 (như phong trào Church Growth của Donald McGavran khởi xướng từ năm 1955, hay cuốn The Growth of the Church in Buganda của John V. Taylor năm 1958). Dù vậy, nhận định dứt khoát về việc "quyền lãnh đạo chuyển dịch từ Bắc xuống Nam" mà Pawson đưa ra đã đi trước tác phẩm thường được coi là dấu mốc mở đường cho luận điểm này, cuốn The Coming of the Third Church của Walbert Buhlmann (tiếng Ý năm 1974, tiếng Anh năm 1976), chừng sáu đến chín năm, và đi trước công trình thống kê quy mô của David Barrett trong World Christian Encyclopedia (1982) tới hơn một thập niên rưỡi.
Xét về mặt số liệu thực tế: theo Trung tâm Nghiên cứu Cơ Đốc giáo Toàn cầu (Gordon-Conwell) và Trung tâm Nghiên cứu Pew, vào năm 1910 có khoảng 80% đến 93% tín hữu Cơ Đốc trên thế giới sống tại Bắc bán cầu (châu Âu và Bắc Mỹ). Đến tận năm 1970, thời điểm gần với bài giảng này, Bắc bán cầu vẫn nắm giữ thế đa số rõ rệt: 58,7% so với 41,3% ở Nam bán cầu. Mốc đảo chiều, khi tỷ lệ tại Nam bán cầu vượt qua 50%, thường được các nhà nghiên cứu xác định là rơi vào thập niên 1980. Điều đó đồng nghĩa với việc Pawson không chỉ đơn thuần ghi nhận một thực tế đã rồi, mà ông đang tiên liệu trước một biến chuyển còn cách thời điểm ông nói khoảng 15 năm. Ngày nay, Nam bán cầu là nơi sinh sống của 67% đến 69% Cơ Đốc nhân toàn cầu, trong đó riêng khu vực châu Phi hạ Sahara đã trở thành cộng đồng Cơ Đốc giáo đông đảo nhất (chiếm khoảng 31%).
Về câu chuyện tại Paraguay: tôi không truy tìm được tài liệu cụ thể nào mà Pawson đang dẫn lại. Hai khả năng ăn khớp nhất với mô tả của ông là công cuộc truyền giáo của Hội Truyền giáo Nam Mỹ thuộc Anh giáo (South American Missionary Society) với sắc dân Enxet ở vùng Chaco từ năm 1889, hoặc các cộng đồng tín hữu Mennonite tại vùng Chaco của Paraguay, dẫu không có manh mối trực tiếp nào gắn liền với bài giảng. Vì thế, nên nhìn nhận chi tiết này như một ví dụ minh hoạ từ lời kể cá nhân hơn là một sự kiện đã được kiểm chứng trọn vẹn.
Nguồn: gordonconwell.edu/blog/the-100-year-shift-of-christianity-to-the-south; Pew Research, "Global Christianity" (2011) và bản cập nhật 2025; lausanne.org/global-analysis/highlights-of-christianity-in-its-global-context-1970-2020.

Buổi thờ phượng Chúa Nhật tại Word of Life Bible Church, Warri, Nigeria, năm 2016 — một hội thánh trong hàng ngàn hội thánh ở Châu Phi, Mỹ Latinh và Châu Á đã kéo trọng tâm dân số Cơ Đốc giáo về phía Nam bán cầu.
Buổi thờ phượng Chúa Nhật tại Word of Life Bible Church, Warri, Nigeria, năm 2016 — một hội thánh trong hàng ngàn hội thánh ở Châu Phi, Mỹ Latinh và Châu Á đã kéo trọng tâm dân số Cơ Đốc giáo về phía Nam bán cầu.Ảnh: WLBC Media Team, qua Wikimedia Commons. CC BY-SA 4.0.

Vài Nơi Hợp Nhất Được, Một Nơi Thì Không

Phong trào hợp nhất hội thánh, 1925–1972

10/6/1925

United Church of Canada: Giám Lý + Giáo đoàn tự trị + ~70% Trưởng Lão hợp nhất tại Toronto

27/9/1947

Church of South India ra đời tại Madras: hợp nhất đầu tiên vượt ranh giới giám mục/không-giám-mục kể từ Cải Chánh

8/7/1969

Đề án hợp nhất Anh giáo–Giám Lý thất bại tại Convocation Canterbury/York: 69% ủng hộ, cần 75%

1/11/1970

Church of Pakistan ra đời: Anh giáo, Giám Lý, Trưởng Lão (Giáo hội Scotland), Luther hợp nhất

5/1972

Đề án hợp nhất Anh giáo–Giám Lý thất bại lần hai tại General Synod mới

Pawson giảng khi Pakistan “đang tìm cách” hợp nhất (chưa xảy ra). Ông không thấy trước rằng chính đề án hợp nhất Anh giáo–Giám Lý ngay tại quê nhà mình sẽ thất bại, không chỉ một mà hai lần.

Nhà thờ chính toà Thánh George, Chennai (Madras), cung hiến năm 1815 — nơi Giáo hội Nam Ấn (Church of South India) chính thức thành lập ngày 27/9/1947, hợp nhất Anh giáo, Giám Lý, Giáo đoàn tự trị và Trưởng Lão. Ảnh chụp hiện đại, không phải ảnh buổi lễ 1947.
Nhà thờ chính toà Thánh George, Chennai (Madras), cung hiến năm 1815 — nơi Giáo hội Nam Ấn (Church of South India) chính thức thành lập ngày 27/9/1947, hợp nhất Anh giáo, Giám Lý, Giáo đoàn tự trị và Trưởng Lão. Ảnh chụp hiện đại, không phải ảnh buổi lễ 1947.Ảnh: Prithvin 88, qua Wikimedia Commons. Public domain.

✍︎Hợp nhất Hội Thánh: đúng một nửa, và một thất bại ông không thấy trước

Cả ba ví dụ Pawson nêu ra đều có thật trong lịch sử. United Church of Canada được thành lập ngày 10/6/1925 tại Toronto qua việc sáp nhập Giáo hội Giám Lý, Liên hiệp Giáo đoàn tự trị Canada, và khoảng 70% Giáo hội Trưởng Lão Canada (khi đó có 784 trên tổng số 4.512 hội thánh Trưởng Lão quyết định đứng ngoài). Đây thường được xem là cuộc hợp nhất đầu tiên trên thế giới vượt qua lằn ranh giữa các hệ phái lớn. Church of South India ra đời ngày 27/9/1947 tại Madras sau 28 năm đối thoại kiên trì, kết nối truyền thống Anh giáo (có chế độ giám mục) với các nhánh không theo chế độ giám mục. Đây là bước đi đầu tiên dung hoà được sự cách biệt này kể từ thời Cải Chánh, và từng làm dấy lên không ít tranh cãi nơi phái Anh giáo Cao. Còn Church of Pakistan quả thật đã thành lập vào ngày 1/11/1970. Cụm từ "đang tìm cách làm" của Pawson là một chỉ dấu cho thấy bài giảng này được thực hiện không lâu trước mốc thời gian đó.
Tuy nhiên, có một điều ông đã không lường trước được: đề án hợp nhất giữa Anh giáo và Giám Lý ngay tại quê nhà nước Anh, điều ông từng lạc quan mô tả là "đang đối thoại", rốt cuộc đã thất bại tới hai lần. Lần thứ nhất tại Hội nghị Canterbury và York ngày 8/7/1969 (chỉ đạt 69% phiếu thuận trong khi quy định cần 75%, bất chấp việc Hội nghị Giám Lý trong cùng ngày đã thông qua với 77,4%), và lần thứ hai tại Thượng hội đồng Tổng quát vào tháng 5/1972. Tôi cũng muốn đính chính một nhầm lẫn khá phổ biến trên mạng: nhiều bài viết cho rằng việc tấn phong nữ mục sư là nguyên nhân dẫn đến hai lần đổ vỡ này. Điều đó không đúng về mặt thời gian, bởi Giáo hội Giám Lý tại Anh mãi tới ngày 2/7/1974 mới tấn phong nữ mục sư đầu tiên, tức sau cả hai đợt bỏ phiếu. Nguyên nhân cốt lõi thực chất nằm ở những bất đồng xoay quanh "Lễ Hoà Giải" (Service of Reconciliation) khi bàn việc hiệp nhất chức vụ giữa hai bên.
Về câu nói của Muggeridge cùng vị giáo sư giấu tên ở Yale: sau nhiều lần tra cứu kỹ lưỡng, tôi không tìm thấy xuất xứ chính thức của cả hai câu này trong bất kỳ trang sách, bài phỏng vấn hay kho tư liệu trích dẫn nào. Chúng không để lại dấu vết văn bản nào gắn với Muggeridge hay một học giả Yale cụ thể, nên tốt nhất hãy xem đây là những mẩu giai thoại truyền miệng quen thuộc trên bục giảng hơn là những trích dẫn lịch sử được ghi nhận.
Nguồn: united-church.ca; britannica.com "Church of South India", "Church of Pakistan"; christianitytoday.com/1969/08/where-defeat-is-mandate; methodist.org.uk (kỷ niệm 50 năm phong chức nữ mục sư).

Về Công giáo và Tin Lành. Pawson dự đoán "mảnh đất tôn giáo phương Tây rồi sẽ chỉ còn lại hai người chơi chính là Công giáo và Tin Lành". Theo ông, Công giáo "sẽ mất dần ảnh hưởng ở Nam Âu, nhưng có thể mở rộng tại Bắc Âu nếu họ chịu thay đổi phương cách tiếp cận", còn phía Tin Lành "sẽ vừa trở nên gắn kết hơn, nhưng đồng thời cũng chia rẽ sâu sắc hơn".

Tôi tin rằng lãnh đạo Hội Thánh sẽ chuyển từ Bắc bán cầu sang Nam bán cầu. Và các hội thánh vốn theo truyền thống là người gửi tin lành sẽ cần trở thành người nhận. Và điều này sẽ khiến họ khiêm nhường rất nhiều.

✍︎Công giáo, Tin Lành, và điều Pawson không thấy trước

Nửa đầu nhận định về việc Công giáo thu hẹp tại Nam Âu đã được thực tế chứng minh rất rõ, thậm chí còn sụt giảm sâu hơn những gì Pawson mường tượng. Tại Tây Ban Nha, tỷ lệ người đi lễ Chúa Nhật đã rơi từ 68% vào năm 1973 xuống còn khoảng 11% đến 17% ngày nay; tại Ý giảm từ 36,4% năm 2001 xuống 18,8% năm 2022; còn ở Bồ Đào Nha, chỉ khoảng 49% thanh niên độ tuổi 18–34 tự nhận mình là người Công giáo, so với mức 80% của toàn bộ dân số. Về nửa sau dự đoán, việc Công giáo mở rộng tại Bắc Âu nhờ đổi mới cách làm, thì chỉ đúng ở một phạm vi nhỏ và mang tính cục bộ. Sự tăng trưởng ở vùng Scandinavia là có thật, nhưng phần lớn lại đến từ các dòng người nhập cư Công giáo (như Ba Lan, Philippines, châu Phi và Mỹ Latinh) hơn là việc Giáo hội thuyết phục được cư dân bản địa Bắc Âu. Trong khi đó, các cộng đồng Công giáo truyền thống lâu đời ở Tây và Bắc Âu (như Đức, Hà Lan, Ireland, Anh) lại suy giảm mạnh mẽ, tiêu biểu là làn sóng Kirchenaustritt (thủ tục chính thức xin rút khỏi Giáo hội) tại Đức vì những bê bối lạm dụng.
Thế nhưng, điều Pawson hoàn toàn không ngờ tới mới chính là chuyển biến lớn nhất: cách nhìn nhị phân chia đôi sân chơi giữa Công giáo và Tin Lành đã bỏ qua lực lượng thay đổi sâu sắc diện mạo đức tin phương Tây từ sau năm 1970. Đó là sự xuất hiện của nhóm những người "không tôn giáo" (thường gọi là nones). Tại Mỹ, khảo sát của Pew giai đoạn 2023–2024 cho thấy có tới 29% người trưởng thành không thuộc về một tôn giáo nào (tăng vọt từ mức 16% năm 2007). Nhóm này hiện đông hơn cả cộng đồng Công giáo và tương đương quy mô toàn bộ khối Tin Lành. Pawson đã nhìn ra đúng hai dòng chảy Cơ Đốc giáo kiên cường nhất, nhưng ông không thấy trước rằng đối trọng thứ ba lại chính là sự thờ ơ với mọi tôn giáo.
Riêng nhận định "Tin Lành vừa hợp nhất hơn lại vừa chia rẽ hơn" lại là phán đoán chuẩn xác nhất của ông. Phong trào Ngũ Tuần và Ân tứ xuyên hệ phái đã bùng nổ từ 58 triệu người vào năm 1970 lên tới khoảng 635 đến 644 triệu tín hữu vào năm 2020, tức tăng khoảng 11 lần, tạo nên một sợi dây gắn kết xuyên suốt. Song song với đó, Giáo hội Giám Lý Thống nhất (UMC) tại Mỹ lại vừa trải qua cuộc phân rẽ lớn nhất kể từ thời Nội chiến (khoảng 7.659 hội thánh, chiếm một phần tư tổng số, đã rời đi trong giai đoạn 2019–2023 để lập nên Global Methodist Church), còn Hội Báp-tít Nam Phương (SBC) cũng ghi nhận số lượng thành viên sụt giảm liên tục suốt 18 năm qua.
Nguồn: harvard.edu/gazette (dữ liệu Vatican II và tỷ lệ dự lễ, 2025); pewresearch.org/religion/2013/02/13/the-global-catholic-population; pewresearch.org/religion/2025/02/26/religious-landscape-study-executive-summary; gordonconwell.edu/center-for-global-christianity; christianitytoday.com/2023/12 (ly giáo UMC).

Về sứ mạng rao giảng tin lành cho muôn dân. Pawson nhìn tương lai với con mắt khá lạc quan, cho rằng "nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại", việc đem tin lành đến với mọi sắc tộc theo Ma-thi-ơ 24:14 (với mục tiêu giúp mọi người đều được nghe, chứ chưa hẳn là tất cả đều tin) "sẽ hoàn tất trọn vẹn, ít nhất là vào khoảng năm 2000". Ông nhắc tới tấm gương của Hội Dịch thuật Kinh Thánh Wycliffe, nơi các dịch giả "đôi khi sẵn sàng lặn lội tới một bộ tộc vỏn vẹn chỉ có 13 người" để chuyển ngữ một phần Lời Chúa cho họ.

✍︎Hạn chót năm 2000: một phong trào có thật cùng chung cột mốc

Mốc thời gian "hoàn tất trước năm 2000" mà Pawson đưa ra không đơn thuần là sự lạc quan của riêng ông. Nó phản ánh đúng mục tiêu của cả một phong trào truyền giáo lớn thời bấy giờ: phong trào AD2000 & Beyond (khởi phát từ Đại hội Lausanne II tại Manila năm 1989 với khẩu hiệu "một hội thánh cho mỗi dân tộc, và tin lành cho mọi người trước năm 2000"). Chính phong trào này đã thành lập dự án Joshua Project 2000 nhằm theo dõi khoảng 1.700 "nhóm dân chưa được tiếp cận". Tuy nhiên, báo cáo nội bộ vào tháng 6/2000 do Luis Bush, vị lãnh đạo phong trào công bố, đã thẳng thắn thừa nhận mục tiêu này chưa thể hoàn thành. Khi ấy vẫn còn hơn 1.100 nhóm dân chưa có lấy một cộng đồng tín hữu bản địa tối thiểu, 265 nhóm hoàn toàn vắng bóng mọi nỗ lực truyền giáo, và chừng 7.400 cộng đồng nhỏ khác vẫn chưa thể tự lập hội thánh.
Một phần tư thế kỷ sau cái mốc năm 2000 của Pawson, số liệu từ Joshua Project hiện ghi nhận khoảng 7.188 "nhóm dân chưa được tiếp cận" (tương đương 3,42 tỷ người) và 3.218 nhóm "biên cương" (nơi tỷ lệ Cơ Đốc nhân dưới 0,1%, với gần 1,9 tỷ người) gần như chưa từng có cơ hội nghe tin lành. Về phía Wycliffe, tính đến báo cáo tháng 8/2025 vẫn còn 544 ngôn ngữ (khoảng 36,8 triệu người) chưa hề có một dự án dịch thuật nào được khởi động, cho dù tầm nhìn hiện tại của họ ("Vision 2025") mới chỉ khiêm tốn đặt mục tiêu bắt tay vào làm cho mọi ngôn ngữ còn lại, chứ chưa dám nói đến ngày hoàn tất.
Về chi tiết "bộ tộc 13 người", tôi không tìm thấy tài liệu nào ghi chép một trường hợp cụ thể như vậy. Rất có thể đây chỉ là cách nói minh hoạ của Pawson, dù nó hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc làm việc của Wycliffe/SIL là sẵn sàng dịch Kinh Thánh cho cả những nhóm ngôn ngữ rất nhỏ (hiện khoảng 1/12 số ngôn ngữ trên thế giới có ít hơn 100 người sử dụng).
Nguồn: Robert T. Coote, "'AD 2000' and the '10/40 Window': A Preliminary Assessment," International Bulletin of Missionary Research (10/2000); joshuaproject.net/about/details; wycliffe.net/2025/08/25/2025-scripture-access-statistics.

Về sự sa sút thuộc linh và bức hại. Ông báo trước về "một làn sóng bội đạo lớn" cùng cảnh tượng "tình yêu thương của nhiều người sẽ dần nguội lạnh". Ông minh hoạ điều này bằng câu chuyện về một tín hữu lớn tuổi trong hội thánh mình tên là Bateman: bức ảnh chụp ông Bateman thời trai trẻ đang nhiệt thành đứng giảng đạo ngoài trời, và tới khi tóc đã bạc, ông vẫn kiên trì làm công việc ấy trong khi phần lớn bạn bè cùng thời đều đã buông tay. Pawson nhắc nhở rằng những cơn bức hại sẽ chỉ "càng lúc càng gia tăng", và Hội Thánh cần chủ động chuẩn bị tâm thế cho những ngày gian khó sắp tới.


II. Tương lai trung hạn: đại nạn, cất lên, và ngàn năm (một hệ quy chiếu, chưa phải lập trường)

Pawson chuyển sang bàn về "biến cố trọng đại tiếp theo của dòng lịch sử": không phải Đệ Tam Thế Chiến, cũng chẳng phải việc con người đặt chân lên mặt trăng, mà là "sự trở lại của Chúa Cứu Thế Jêsus trong một thân thể vật lý, hữu hình, mang trọn vẹn những dấu đinh trên bàn tay và bàn chân". Ông giới thiệu ba khái niệm quan trọng theo đúng trật tự: Đại Nạn (Tribulation), Sự Cất Lên (Rapture), và Thời Kỳ Ngàn Năm (Millennium). Ông nhấn mạnh rằng mọi Cơ Đốc nhân đều đồng thuận về khái niệm ở giữa: chính là Sự Cất Lên, tức việc Đấng Christ sẽ thật sự trở lại đón rước dân Ngài. Điểm bất đồng thực ra chỉ nằm ở hai đầu: cách hiểu về Đại Nạn và cách nhìn nhận về Thời Kỳ Ngàn Năm.

Về Thời Kỳ Ngàn Năm, ông điểm qua ba cách hiểu phổ biến: nhóm thứ nhất xem đây là "một con số mang tính biểu tượng thuần tuý", không phải một mốc thời gian thực tế; nhóm thứ hai tin rằng chính Hội Thánh sẽ mở ra thời đại hoàng kim đó và Đấng Christ chỉ tái lâm khi giai đoạn ấy khép lại; còn nhóm thứ ba, trong đó có chính ông, tin câu chữ trong Kinh Thánh "mang đúng nghĩa đen của nó". Tức là sẽ có một ngàn năm cai trị hữu hình của Đấng Christ trên đất trước khi Ngài trao vương quốc lại cho Đức Chúa Cha. Như vậy, lập trường của Pawson thuộc về thuyết tiền thiên hi niên (premillennial), nghĩa là Đấng Christ sẽ trở lại trước thời kỳ ngàn năm chứ không phải sau đó.

Sau đó là khoảnh khắc giàu cảm xúc nhất trong bài giảng đầu tiên: ông hồi tưởng lại buổi bế mạc chiến dịch truyền giảng của Billy Graham tại sân vận động Wembley, nơi hàng chục ngàn người cùng hoà vang tiếng hát tôn vinh Chúa. Ông tự hỏi: nếu một buổi nhóm như thế đã tạo nên ấn tượng choáng ngợp, thì cuộc hội ngộ trên mây cùng Đấng Christ quy tụ tất cả Cơ Đốc nhân qua mọi thời đại sẽ vĩ đại đến dường nào. Ông hóm hỉnh nhận xét: "chẳng có sân vận động nào trên trần gian đủ chỗ chứa, nên Chúa Jêsus đã chọn không trung làm nơi gặp gỡ". Ông nhắc lại lời cảnh báo nghiêm khắc của Chúa Jêsus trong Lu-ca 17 về ngày phân rẽ ấy: "sẽ có hai người đàn bà cùng xay một cối, một người được đem đi, người kia bị bỏ lại; hai người cùng nằm một giường, người này được tiếp rước, người kia bị để lại." Sẽ có một thế hệ Cơ Đốc nhân không phải nếm trải sự qua đời, và "sẽ chẳng có đám tang nào dành cho thế hệ ấy". Ông cũng chia sẻ mẩu chuyện về tấm bia mộ của ông nội mình, nơi chỉ khắc vỏn vẹn ba chữ: "Cuộc hạnh ngộ diệu kỳ!" (What a meeting!), khiến những ai tình cờ đọc được không khỏi băn khoăn suy nghĩ.

Rồi ông dừng lại đúng điểm nút căng thẳng nhất: "Đến đây tôi biết mình sắp đụng chạm vào chỗ nhạy cảm." Ông tóm lược ba luồng quan điểm xoay quanh mối liên hệ giữa Sự Cất Lên và Cơn Đại Nạn: Hội Thánh được cất lên trước đại nạn (quan điểm phổ biến nhất hiện nay), giữa đại nạn (thiểu số), hoặc sau đại nạn cùng lúc với sự Tái Lâm của Đấng Christ (lập trường của cá nhân ông). Ông hẹn sẽ dành trọn vẹn bài giảng tiếp theo để phân tích cặn kẽ lập luận này.


III. Tương lai vĩnh cửu: cái không thể tưởng tượng

Pawson khép lại bài giảng thứ nhất bằng một phần ngắn gọn và chừng mực: tương lai vĩnh cửu. Ông đọc lại 1 Cô-rinh-tô 2:9: "Điều mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và lòng người chưa từng nghĩ tới, ấy là những sự Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho những người kính mến Ngài." Ông ví mối liên hệ của tín hữu với Đấng Christ trong đời này như thuở đính ước, còn cõi vĩnh hằng phía trước mới thực sự là ngày hôn lễ trọn vẹn.

Ông kết thúc bằng lời nhắn nhủ của Giám mục J.C. Ryle ở Liverpool, trích từ cuốn sách nhỏ The True Church: "Người ta thường lầm tưởng rằng hễ gia nhập một giáo hội nào đó, tham dự lễ Tiệc Thánh, hay thực hành vài nghi thức tôn giáo, là linh hồn mình đã được an toàn. Đó hoàn toàn là một sự tự lừa dối… Bạn có thể là một tín đồ Anh giáo nhiệt thành, một người Trưởng Lão, Giáo đoàn tự trị, Báp-tít, Giám Lý, hay một thành viên phái Anh Em Plymouth, mà vẫn hoàn toàn đứng ngoài Hội Thánh thật của Đức Chúa Trời."


PHẦN HAI: SỰ TRỞ LẠI CỦA ĐẤNG CHRIST

Bài giảng thứ hai, có độ dài gần gấp đôi bài trước, chính là lúc Pawson đi thẳng vào vấn đề gai góc này. Ông mở đầu bằng hai lời thỉnh cầu chân thành: xin người nghe đừng đến với tinh thần soi mói tìm lỗi, mà hãy mang một tấm lòng cởi mở đối với một chủ đề vốn đang làm phân hoá chính cộng đồng Cơ Đốc nhân. Ông cho biết đề tài này bắt nguồn từ hai loạt bài giảng song song mà ông phụ trách tại Millmead: sách Xa-cha-ri vào các buổi sáng Chúa Nhật và sách Tê-sa-lô-ni-ca vào các buổi tối Chúa Nhật. Động lực thôi thúc ông đến từ một câu hỏi liên tục được nêu ra sau các giờ học Kinh Thánh sách Xa-cha-ri: liệu có tín hữu nào còn sống trên đất để chứng kiến những biến cố mà ông đang miêu tả hay không?


I. Hai quan điểm, không phải một sự thật đã ổn định

Pawson đặt vấn đề rất sáng tỏ: mọi Cơ Đốc nhân đặt trọn niềm tin vào Kinh Thánh đều nhìn nhận sẽ có hai biến cố lớn trong tương lai, gồm sự tái lâm của Đấng Christ (được nhắc đến hơn 300 lần trong Tân Ước) và sự xuất hiện của Antichrist. Toàn bộ cuộc tranh luận thực chất xoay quanh trật tự thời gian giữa hai sự kiện này.

Ông phân tích hai luồng tư tưởng:

Quan điểm truyền thống, theo lời ông, là cách hiểu đã định hình "suốt 17 thế kỷ đầu tiên của lịch sử Hội Thánh, từ thời ban sơ cho tới khoảng năm 1800": Antichrist sẽ xuất hiện trước, rồi Đấng Christ mới tái lâm sau đó. Antichrist thiết lập một thể chế độc tài áp đặt sự thờ phượng tuyệt đối, kế đó Đấng Christ trở lại để tiêu diệt hắn và lập nên vương quốc của Ngài. Pawson cho rằng lập trường này từng được các giáo phụ sơ khai, các nhà Cải Chánh (dù ông nhận xét họ "đã nhầm lẫn" khi quy kết Giáo hoàng là Antichrist), phái Thanh giáo, cùng John Wesley nắm giữ.

Quan điểm dispensational (thần học thời đại), hình thành "từ khoảng năm 1825" và đang chiếm ưu thế rộng rãi hiện nay: Đấng Christ sẽ đến các thánh đồ trước tiên (trong một biến cố cất lên bí mật để đem Hội Thánh rời khỏi trần gian), tiếp theo là bảy năm hoành hành của Antichrist khi Hội Thánh đã vắng bóng, và cuối cùng Đấng Christ mới tái lâm cùng các thánh đồ để tiêu diệt kẻ ác và trị vì trên đất. Ông gọi đây là "quan điểm bất kỳ lúc nào" (any-moment), bởi nó dạy rằng Chúa có thể trở lại ngay đêm nay mà không cần bất kỳ dấu hiệu báo trước nào xảy ra.

Trước khi đi sâu vào so sánh, Pawson dừng lại để phân tích chính từ "Antichrist": ông cho rằng tiền tố Hy Lạp anti "không mang nghĩa chống lại như cách hiểu thông thường ngày nay, mà mang nghĩa thay thế". Theo ông, Antichrist là kẻ đóng giả Đấng Christ hơn là kẻ đối đầu công khai, và ông dùng cách hiểu này để giải thích lý do Sa-tan từng cám dỗ Chúa Jêsus trong đồng vắng bằng việc trao cho Ngài vai trò tương tự như vậy.

✍︎Ghi chú của Kit

Đây là một nhận định về mặt ngôn ngữ có thể đối chiếu được, và thực tế nó chỉ đúng một phần. Tiền tố Hy Lạp ἀντί trong tiếng Hy Lạp Koine có hai tầng nghĩa chính: nét nghĩa phổ biến nhất, và cũng là nghĩa chủ đạo khi dùng trong danh từ antichristos, chính là "chống lại, đối nghịch", hoàn toàn đúng như cách hiểu thông thường mà Pawson muốn bác bỏ. Tuy nhiên, anti quả thực cũng mang hàm nghĩa "thay cho, đại diện cho" trong một số từ ghép Tân Ước khác, chẳng hạn như antilytron ("giá chuộc thay", 1 Ti-mô-thê 2:6) hay antimisthia ("sự báo đáp tương xứng"). Lối giải nghĩa xem "Antichrist là kẻ mạo danh để thay thế vị trí của Đấng Christ" không phải do Pawson tự nghĩ ra, mà từng được một số học giả uy tín ủng hộ (như Kenneth Wuest) và cũng phù hợp với mô tả trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2 về "kẻ gian ác" ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời và tự xưng là Đức Chúa Trời. Dẫu vậy, việc khẳng định tiền tố này "không có nghĩa là chống lại" là một cách diễn đạt có phần tuyệt đối hoá quá mức. Các bộ từ điển Hy Lạp quy chuẩn như BDAG đều xếp nghĩa "chống đối, đối nghịch" là nghĩa chính yếu của anti trong ngữ cảnh này, còn nét nghĩa "thay thế" chỉ là một lớp nghĩa phái sinh, không phải nghĩa duy nhất hay cốt lõi.
Nguồn: BDAG (A Greek-English Lexicon of the New Testament); Kenneth Wuest, Word Studies in the Greek New Testament.

Hai Cách Sắp Xếp Cùng Hai Sự Kiện

Antichrist và Đấng Christ trở lại: trình tự nào?

Quan điểm truyền thống (~1800 năm đầu: các giáo phụ, Cải Chánh, Thanh giáo, Wesley, và Pawson)

Hội Thánh trên đấtAntichrist trị vì (đại nạn)Đấng Christ trở lại, tiêu diệt Antichrist

Hội Thánh có mặt suốt: không có một cuộc “cất lên” bí mật trước đó.

Quan điểm dispensational (từ ~1830: Darby, Scofield, phần lớn Tin Lành Mỹ hiện đại)

Cất lên bí mật (Hội Thánh rời khỏi đất)Antichrist trị vì (Hội Thánh vắng mặt)Đấng Christ hiện ra công khai cùng các thánh đồ

Hai giai đoạn tách biệt cách nhau bảy năm.

Pawson tự đặt mình vào dòng truyền thống: không phải vì nó cũ hơn, mà vì ông không tìm thấy quan điểm dispensational trong chính văn bản Tân Ước, dù ông thừa nhận đây là quan điểm được đa số Tin Lành phái Ngũ Tuần và độc lập tin theo ngày nay.

✍︎Quan điểm truyền thống: đúng với các giáo phụ hơn với Wesley

Đây là một trong những điểm có cơ sở tư liệu vững chắc nhất trong bài nói của ông. Các giáo phụ thời kỳ hậu sứ đồ sớm nhất như Justin Martyr (Dialogue with Trypho), Irenaeus (Against Heresies, quyển V) hay Tertullian đều giảng dạy đúng theo trình tự mà Pawson trình bày: Antichrist xuất hiện trước, sau đó Đấng Christ tái lâm hữu hình để diệt trừ kẻ ác, rồi thời kỳ ngàn năm mới bắt đầu. Tuyệt đối không có trước tác giáo phụ nào đề cập đến một biến cố cất lên bí mật trước khi Antichrist xuất hiện.
Việc các nhà Cải Chánh xem Giáo hoàng là Antichrist không phải là suy nghĩ bên lề, mà từng là tín điều chính thức của các nhánh Kháng Cách và Thanh giáo truyền thống. Bản Tín biểu Westminster nguyên bản năm 1646 tại Điều 25.6 nêu rõ: "Không một ai khác có thể làm đầu của Hội Thánh ngoại trừ Chúa Cứu Thế Jêsus. Giáo hoàng tại Rôma không thể là đầu của Hội Thánh theo bất kỳ nghĩa nào, mà chính là Antichrist, kẻ tội ác và con của sự hư mất." Điều khoản này mãi về sau mới được lược bỏ trong các bản tu chỉnh (chủ yếu tại Mỹ vào thế kỷ 19 và 20). Martin Luther cũng từng khẳng định tương tự trong các Điều khoản Smalcald (1537): "Giáo hoàng chính là Antichrist".
Riêng về John Wesley thì cần một lưu ý nhỏ: ông đúng là chịu ảnh hưởng bởi lối giải kinh lịch sử của Bengel khi đồng nhất Giáo hoàng với Antichrist và không tin vào sự cất lên bí mật, nhưng lập trường của ông lại thuộc thuyết hậu thiên hi niên. Tức là ông tin sau khi Antichrist sụp đổ sẽ mở ra một thời kỳ phúc âm phục hưng rực rỡ và kéo dài trên đất, rồi sau đó Đấng Christ mới tái lâm, chứ không phải Ngài trở lại ngay tức khắc như mô hình hai bước rút gọn của Pawson.
Nguồn: christianhistoryinstitute.org/magazine/article/historic-premillennialism; opc.org/documents/WCF_orig.html (bản 1646); thebookofconcord.org (Smalcald Articles); wesleyscholar.com/john-wesleys-order-of-eschatological-events.


II. Nơi quan điểm dispensational thực sự ra đời

Pawson kể lại nguồn gốc lịch sử của quan điểm này một cách khá súc tích: "bắt đầu từ một người tên là J.N. Darby… ban đầu là phó tế của Anh giáo… khoảng năm 1825, khởi sự tại Dublin… rồi khoảng năm 1830, bắt đầu tại Plymouth". Ông cũng nhận xét rằng ý niệm này "hoàn toàn chưa từng xuất hiện trước thế kỷ 19", rồi sau đó "đồng thời nảy sinh nơi hai con người: Edward Irving… và J.N. Darby".

Một Học Thuyết Mười Chín Thế Kỷ Mới Xuất Hiện

Nguồn gốc học thuyết Rapture trước đại nạn, 1825–1909

8/1825

Darby được phong phó tế Giáo hội Ireland (Anglican), giáo xứ Calary, Wicklow

Đông 1827–28

Nhóm nhỏ (Darby, Cronin, Bellett, Groves…) bắt đầu bẻ bánh riêng tại Dublin: khởi đầu thật của Brethren

1830

Khải tượng của Margaret Macdonald, 15 tuổi, tại Port Glasgow, Scotland, trong vòng ảnh hưởng của Edward Irving

1830–1838

Hội nghị Powerscourt (Ireland): nơi hệ thống futurism/dispensationalism của Darby dần thành hình

12/1831

Buổi nhóm Brethren đầu tiên tại Plymouth, Anh

1833

Edward Irving bị Giáo hội Scotland truất chức; lập Catholic Apostolic Church

1909

Scofield Reference Bible xuất bản (Oxford University Press): phổ biến dispensationalism khắp Tin Lành Mỹ

Việc Irving và Macdonald có thực sự “truyền” ý tưởng này cho Darby hay không vẫn là một tranh luận học thuật chưa ngã ngũ (xem ghi chú màu vàng bên dưới).

John Nelson Darby (1800–1882), phó tế Giáo hội Ireland (Anglican) trở thành người sáng lập phong trào Plymouth Brethren và hệ thống dispensationalism, chụp tại Geneva năm 1840.
John Nelson Darby (1800–1882), phó tế Giáo hội Ireland (Anglican) trở thành người sáng lập phong trào Plymouth Brethren và hệ thống dispensationalism, chụp tại Geneva năm 1840.Nhiếp ảnh gia khuyết danh, 1840. Public domain, Wikimedia Commons.

✍︎Darby: đúng về hệ phái, nén hai mốc thời gian làm một

Darby thực sự được thụ phong phó tế trong Giáo hội Ireland (nhánh Anh giáo tại Ireland, vốn là quốc giáo thời bấy giờ) vào tháng 8/1825, và sau đó được cử về phục vụ tại giáo xứ nông thôn hẻo lánh Calary, thuộc hạt Wicklow, chứ không phải Dublin. Việc gọi ông là mục sư "Anh giáo" là cách nói vắn tắt chính xác, còn tên gọi giáo hội chính thức là "Giáo hội Ireland".
Tuy nhiên, mốc "1825, bắt đầu tại Dublin" thực chất đã gộp hai sự kiện riêng biệt làm một: năm 1825 là thời điểm Darby nhận chức và về nhận nhiệm sở tại Wicklow, còn các buổi nhóm bẻ bánh thông công không chính thức đầu tiên ở Dublin (giữa Darby cùng Edward Cronin, John Gifford Bellett, Anthony Norris Groves…) chỉ thực sự bắt đầu vào mùa đông 1827–1828, trong thời gian Darby phải dưỡng thương sau một tai nạn ngã ngựa. Chi tiết "khoảng năm 1830, bắt đầu tại Plymouth" thì khá sát nhưng hơi sớm một chút: buổi nhóm Brethren đầu tiên tại Plymouth diễn ra vào tháng 12/1831.
Nguồn: Sweetnam & Gribben, "J.N. Darby and the Irish Origins of Dispensationalism," Journal of the Evangelical Theological Society 52/3 (2009); Dictionary of Irish Biography.

Edward Irving (1792–1834), mục sư Giáo hội Scotland ở London, nhân vật trung tâm của một cuộc tranh luận sử học chưa ngã ngũ về nguồn gốc học thuyết Rapture trước đại nạn.
Edward Irving (1792–1834), mục sư Giáo hội Scotland ở London, nhân vật trung tâm của một cuộc tranh luận sử học chưa ngã ngũ về nguồn gốc học thuyết Rapture trước đại nạn.Chân dung khuyết danh, khoảng 1823. Nguồn: National Portrait Gallery, London / Wikimedia Commons. Public domain.

✍︎Irving và Darby: hai người, nhưng không hẳn cùng một ý tưởng

Đây là chỗ Pawson đã giản lược một lát cắt lịch sử vốn nhiều phức tạp. Việc đặt Irving và Darby cạnh nhau như thể hai con người độc lập cùng khám phá ra chính xác một học thuyết cất lên bí mật là chưa thật sự thoả đáng. Các nghiên cứu chuyên sâu về giáo huấn của chính Edward Irving (chẳng hạn như công trình 'Gathered Under Apostles' của C.G. Flegg, Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1992) chỉ ra rằng Irving xem sự "biến hoá thân thể" của các thánh đồ là một phần nằm ngay trong cùng một sự kiện Tái Lâm, diễn ra trong một khoảng khắc ngắn ngủi của ngày ấy, chứ không hề dạy về một cuộc cất lên bí mật xảy ra cách biệt nhiều năm trước cơn đại nạn bảy năm. Hơn nữa, Irving thuộc trường phái lịch sử luận (xem các lời tiên tri ứng nghiệm dần qua dòng lịch sử Hội Thánh), trong khi Darby theo trường phái tương lai luận (cho rằng phần lớn các biến cố khải huyền vẫn còn nằm ở thì tương lai). Đó là hai khung giải kinh hoàn toàn khác biệt, chứ không phải một học thuyết duy nhất được hai người cùng lúc nắm giữ.
Một giả thuyết phổ biến hơn mà Pawson có thể đang hàm ý tới: học thuyết cất lên bí mật bắt nguồn từ khải tượng năm 1830 của Margaret Macdonald, một thiếu nữ 15 tuổi tại Port Glasgow, Scotland, thuộc nhóm của Irving, rồi từ đó ảnh hưởng sang Darby (và bị ông "giấu nhẹm gốc gác"). Đây là lập luận nổi tiếng của nhà báo Dave MacPherson trong các cuốn sách xuất bản từ năm 1973 đến 1994. Dù vậy, đa số các sử gia, kể cả phe ủng hộ lẫn phản đối dispensationalism, đều bác bỏ mối liên hệ trực tiếp này. Học giả F.F. Bruce đánh giá điều này "khó có thể xảy ra"; R.A. Huebner và Thomas Ice cũng chứng minh rằng các bài viết manh nha ý tưởng cất lên của Darby đã xuất hiện trước năm 1830; và khi đọc kỹ văn bản gốc khải tượng của Macdonald (in năm 1840), người ta thấy bà mô tả cảnh các thánh đồ phải trải qua thử thách trong đại nạn (tức quan điểm hậu đại nạn), sự mơ hồ chỉ nảy sinh từ bản in lại năm 1861 khi một số câu chữ bị lược bỏ. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa hoàn toàn đóng lại: một luận án tiến sĩ tại King's College London (của Mark Patterson, 2001) đã đưa ra nhiều cứ liệu nghiêm túc cho thấy Irving thực sự có đóng góp vai trò mở đường nhất định. Nói một cách ngắn gọn: đây là một cuộc tranh luận học thuật sống động và chưa có kết luận ngã ngũ tuyệt đối, chứ không đơn giản là chuyện hai người tình cờ cùng nghĩ ra một giáo lý.
Nguồn: C. Graham Flegg, 'Gathered Under Apostles' (Oxford: Clarendon Press, 1992); Thomas Ice, "Edward Irving and the Rapture," pre-trib.org; Sweetnam & Gribben, JETS 52/3 (2009); Timothy C.F. Stunt, "Influences in the Early Development of J.N. Darby," trong Prisoners of Hope? (Paternoster, 2004).

Từ phong trào Brethren của Darby, học thuyết này tiếp tục lan toả qua một mục sư người Mỹ là C.I. Scofield. Pawson giới thiệu Scofield là "một mục sư Giáo đoàn tự trị… từng được D.L. Moody mời về chăm sóc giáo xứ của mình". Chính Scofield đã đưa toàn bộ hệ thống này vào phần chú giải của cuốn Kinh Thánh trứ danh Scofield Reference Bible, xuất bản năm 1909, biến nó thành dòng chảy chủ lưu trong giới Tin Lành Mỹ, đặc biệt qua các hệ phái Ngũ Tuần sau này.

Pawson cũng không quên nhắc đến những nhân vật lỗi lạc trong chính nội bộ phong trào Brethren đã công khai phản đối quan điểm của Darby: đó là nhà học giả văn bản S.P. Tregelles, "G.H. Leng", và tiêu biểu nhất là George Müller, người sáng lập các viện nuôi trẻ mồ côi nổi tiếng ở Bristol.

Cyrus Ingerson Scofield (1843–1921), người biên soạn Scofield Reference Bible (1909) đã phổ biến dispensationalism khắp Tin Lành Mỹ, ảnh chụp khoảng năm 1920.
Cyrus Ingerson Scofield (1843–1921), người biên soạn Scofield Reference Bible (1909) đã phổ biến dispensationalism khắp Tin Lành Mỹ, ảnh chụp khoảng năm 1920.Nhiếp ảnh gia khuyết danh, khoảng 1920. Public domain (Mỹ, xuất bản trước 1931), qua Wikimedia Commons.

✍︎Scofield: đúng năm xuất bản, sai một mối liên hệ với Moody, và một quá khứ nhiều tì vết

Scofield được thụ phong mục sư Giáo đoàn tự trị vào năm 1883 và tự mình đón nhận lời mời về coi sóc một hội thánh nhỏ tại Dallas (ngày nay là Scofield Memorial Church), chứ không phải do Moody kêu gọi về. Mối dây liên hệ với Moody diễn ra trước đó (khi ông cộng tác trong chiến dịch truyền giảng của Moody ở St. Louis năm 1879) và sau đó: mãi đến năm 1895, ông mới rời Dallas để về làm mục sư tại chính hội thánh của Moody, tức Trinitarian Congregational Church ở East Northfield, Massachusetts. Pawson đã vô tình lồng ghép hai nhiệm kỳ mục vụ ở hai thời điểm khác nhau thành một.
Cuốn Kinh Thánh Scofield Reference Bible xuất bản năm 1909 (do Oxford University Press ấn hành, đúng như Pawson nói), bán được hơn 2 triệu bản cho tới cuối Đệ Nhị Thế Chiến, và được ví như "cuốn Kinh Thánh của phong trào Cơ Đốc Căn bản" (Fundamentalism) bởi sức ảnh hưởng sâu rộng của nó lên cách mà nhiều thế hệ tín hữu Mỹ tiếp cận những lời tiên tri.
Có một khía cạnh mà Pawson không đề cập: quãng đời trước khi tin Chúa của Scofield có không ít góc khuất được ghi nhận trong hồ sơ toà án và công quyền. Ông từng buộc phải từ chức Chưởng lý Liên bang tại bang Kansas năm 1873 vì những cáo buộc nhận hối lộ; bị bắt giữ vì hành vi giả mạo chữ ký năm 1878; bỏ rơi người vợ đầu cùng hai cô con gái nhỏ trong khoảng 1877–1881 (thủ tục ly hôn hoàn tất ngày 8/12/1883); và sau đó tái hôn chỉ khoảng ba tháng vào ngày 11/3/1884. Khoảng cách này quá ngắn khiến một số nhà phê bình gán cho ông nghi án "gần như cưới hai vợ", dù không có chứng cứ pháp lý nào cho thấy ông duy trì hai cuộc hôn nhân song song. Cũng cần lưu ý thêm: phiên bản chi tiết và gay gắt nhất về câu chuyện này phần lớn trích từ cuốn sách phê phán của Joseph M. Canfield, The Incredible Scofield and His Book (1988), tác phẩm mà những người ủng hộ Scofield xem là có thành kiến và thổi phồng sự việc. Những sự kiện chính như việc từ chức, tội giả mạo, vụ ly hôn cùng việc tái hôn chớp nhoáng là những sự thật có trong hồ sơ lưu trữ, nhưng cách nhìn nhận chúng như một "quá khứ đen tối" vẫn là chủ đề tranh luận chứ không phải một sự đồng thuận tuyệt đối.
Nguồn: en.wikipedia.org/wiki/C._I._Scofield; library.dts.edu/Pages/TL/Special/scofield.shtml; tshaonline.org/handbook/entries/scofield-cyrus-ingerson; Joseph M. Canfield, The Incredible Scofield and His Book (1988).

✍︎Những người Brethren không đồng thuận

S.P. Tregelles (1813–1875), nhà học giả hiệu đính văn bản Tân Ước Hy Lạp danh tiếng với tầm vóc học thuật không thua kém gì Tischendorf, thực sự đã công khai lên tiếng phản đối học thuyết cất lên bí mật của Darby. Trong cuốn khảo cứu The Hope of Christ's Second Coming (1864), ông lập luận rằng quan điểm này hoàn toàn không có nền tảng trong Kinh Thánh hay truyền thống giáo phụ, đồng thời truy tìm nguồn gốc của nó về một "lời tiên tri" mang nhiều cảm xúc bộc phát trong hội thánh của Edward Irving.
Cái tên "G.H. Leng" trong bài giảng gần như chắc chắn là do đọc chệch từ G.H. Lang (George Henry Lang, 1874–1958), một tác giả uy tín thuộc phong trào Brethren từng viết nhiều khảo luận về sự sống lại và sự cất lên. Cần lưu ý: Lang sinh ra sau Darby nhiều thập niên (Darby qua đời năm 1882), nên lập trường bất đồng của ông thuộc về cuộc đối thoại nội bộ thế hệ sau của phái Brethren, chứ không phải một cuộc tranh luận trực tiếp đương thời như trường hợp của Tregelles hay Müller.
George Müller (1805–1898), người sáng lập các trại mồ côi Bristol thông qua tổ chức Scriptural Knowledge Institution (1834), dù chia sẻ nhiều nét tương đồng với Darby trong cách hiểu tương lai luận tiền thiên hi niên, lại dứt khoát bác bỏ ý tưởng Hội Thánh được cất lên trước đại nạn. Ông nghiêng hẳn về lập trường hậu đại nạn, và được lịch sử ghi nhận là "rất dè dặt" trước luồng giáo lý mới đang lan rộng trong các ấn phẩm của Brethren thời ấy.
Nguồn: christianobserver.net (loạt bài về Darby và cất lên trước đại nạn); en.wikipedia.org/wiki/George_H._Lang; theopedia.com/george-muller.


III. Thử nghiệm học thuyết: từ vựng, và câu hỏi "như kẻ trộm trong đêm"

Pawson từ chối đánh giá một học thuyết dựa thuần tuý vào lịch sử (bởi "sự mới mẻ" không đồng nghĩa với sai lầm; cuộc Cải Chánh thế kỷ 16 cũng từng làm sống lại những chân lý bị lãng quên suốt nhiều thế kỷ), cũng như không dựa trên cảm xúc tâm lý (ý tưởng được cất lên bất ngờ có sức an ủi rất lớn, nhưng "điều chúng ta cần giảng dạy phải là lẽ thật, chứ không phải điều đem lại hiệu quả tâm lý"). Ông đặt ra một tiêu chuẩn duy nhất: Kinh Thánh thực sự nói gì?

Ông bắt đầu từ khía cạnh từ ngữ. Có ba từ ngữ Hy Lạp then chốt được Tân Ước sử dụng để mô tả "sự đến" của Đấng Christ: parousia (chuyến viếng thăm chính thức của bậc đế vương), epiphaneia (sự xuất hiện rạng ngời), và apokalypsis (sự vén màn khải thị). Ông lập luận rằng nếu hệ thống dispensationalism đúng khi tách biệt giữa "sự đến vì các thánh đồ" và "sự hiện ra trước toàn thế gian", thì ba từ ngữ này lẽ ra phải được phân định rạch ròi cho từng giai đoạn riêng biệt. Thế nhưng, khi khảo sát từng phân đoạn, cả ba từ này đều xuất hiện đan xen ở cả hai bối cảnh.

Cùng Ba Chữ, Dùng Cho Cùng Một Biến Cố

Ba từ Hy Lạp cho “sự đến” của Đấng Christ

TừNghĩaDùng cho Hội ThánhDùng cho thế gian
παρουσία (parousia)“Sự đến”, thường dùng cho một cuộc viếng thăm của vua1 Tê 4:152 Tê 2:1
ἐπιφάνεια (epiphaneia)“Sự hiện ra”1 Tim 6:142 Tim 4:1, 8
ἀποκάλυψις (apokalypsis)“Sự vén màn”, kéo tấm màn ra1 Cô 1:72 Tê 1:7

Nếu ba chữ này thật sự tách bạch “cất lên bí mật” khỏi “hiện ra công khai”, mỗi chữ lẽ ra chỉ nên xuất hiện ở một cột. Nhưng cả ba đều xuất hiện ở cả hai cột: cùng một từ, dùng cho cả hai bối cảnh.

✍︎Ba từ Hy Lạp: đúng gần hết, đúng cả một quan điểm học thuật chính thống

Kiểm tra từng phân đoạn Kinh Thánh: từ epiphaneia trong 1 Ti-mô-thê 6:14 và 2 Ti-mô-thê 4:1, 8 là hoàn toàn chuẩn xác. Từ apokalypsis trong 1 Cô-rinh-tô 1:7 và 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7 cũng hoàn toàn đúng. Riêng về parousia: câu 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:1 là đúng, nhưng từ này trên thực tế xuất hiện tại 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15, chứ không phải câu 13 như lời giảng miệng của Pawson (dù toàn bộ phân đoạn 4:13–18 nói về việc "được cất lên" chính là phân đoạn ông đang bàn tới, nên đây chỉ là một sự nhầm lẫn nhỏ về số câu khi nói).
Luận điểm then chốt của Pawson, cho rằng ba từ ngữ này không phải là những thuật ngữ kỹ thuật tách biệt hai giai đoạn, hoàn toàn ăn khớp với kết luận của giới học giả Tân Ước dòng chính thống. George Eldon Ladd trong tác phẩm kinh điển The Blessed Hope (1956) và Robert Gundry trong The Church and the Tribulation (1973) đều khẳng định cách dùng từ vựng trong Tân Ước không thể làm căn cứ để suy diễn ra hai lần tái lâm riêng biệt. Bộ từ điển Hy Lạp quy chuẩn BDAG cũng phân loại parousia là danh từ chung chỉ toàn bộ biến cố Chúa trở lại, chứ không phải một nhãn dán riêng dành cho một giai đoạn cất lên bí mật.
Dẫu vậy, để công bằng với lịch sử: đây vốn là lập luận tiêu biểu của phái dispensational trước năm 1945. Tới thời điểm Pawson thực hiện bài giảng này, nhà thần học hàng đầu của hệ phái này là John Walvoord đã chủ động thừa nhận điểm từ vựng này. Walvoord từng viết rằng parousia "không mang hàm nghĩa kỹ thuật chuyên biệt… nhằm giới hạn phạm vi áp dụng cho riêng một phía", mà được dùng "theo nghĩa khái quát… để mô tả cả sự cất lên lẫn sự tái lâm vinh hiển". Khi ấy, Walvoord bảo vệ quan điểm cất lên trước đại nạn dựa trên các cơ sở khác (như tính bất ngờ, sự khác biệt về đối tượng thính giả, hoặc hình tượng "kẻ ngăn trở" trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2) chứ không còn bám vào sự phân định từ ngữ nữa. Do đó, Pawson đã phản biện rất trúng lập luận truyền thống phổ biến của phái dispensational, dù đó chưa hẳn là dạng lập luận tinh tế và cập nhật nhất của hệ phái này cùng thời kỳ.
Nguồn: George Eldon Ladd, The Blessed Hope (Eerdmans, 1956); Robert Gundry, The Church and the Tribulation (Zondervan, 1973); walvoord.com/article/68 (bài điểm sách của Walvoord về Ladd).

Ông tiếp tục phân tích các cụm từ quen thuộc khác: hình ảnh "như kẻ trộm trong đêm" (luôn luôn được áp dụng cho những người không tỉnh thức chuẩn bị, chứ không bao giờ nhắm vào tín hữu trung kiên), khái niệm "gần rồi" (ông phân biệt hai từ Hy Lạp khác nhau: một từ chỉ tương lai gần mà vẫn có thể có những biến cố xảy ra xen giữa, và một từ mang nghĩa "có thể xảy ra bất cứ lúc nào"; Sứ đồ Phao-lô chỉ dùng từ thứ hai đúng một lần trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2, và dùng nó chính là để bác bỏ quan niệm Chúa đến bất ngờ không dấu hiệu báo trước), cùng mệnh lệnh "hãy tỉnh thức" (không phải là ngửa mặt nhìn trời thụ động, mà là nhận biết và phân biện các dấu hiệu thời đại đang diễn ra, tựa như bài học rút ra từ cây vả).


IV. Cái trục chính của Tân Ước

Đây là phần có dung lượng lớn nhất trong bài giảng: Pawson lần lượt khảo sát qua các sách Phúc Âm, các Thư Tín, cho tới sách Khải Huyền để chứng minh rằng sợi chỉ đỏ xuyên suốt của Tân Ước là "người tin Chúa luôn được báo trước rất cặn kẽ, còn người vô tín thì hoàn toàn bất ngờ". Điều này trái ngược hẳn với những gì học thuyết cất lên bí mật giả định (cho rằng tín hữu sẽ biến mất thình lình không dấu hiệu, trong khi thế gian lại có đầy đủ thời gian và điềm báo sau đó). Ông mở đầu bằng một câu hỏi rất thực tế: sự biến mất đồng loạt của hàng trăm triệu tín hữu làm sao có thể diễn ra một cách "êm thấm không ai hay biết"? Ông nêu con số ước tính "850 triệu Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa trên khắp thế giới hiện nay".

✍︎850 triệu: hơi thấp so với dữ liệu thống kê ở Phần 5

Nếu bài giảng này diễn ra vào cuối năm 1967 như chúng ta đã xác định, con số mà Pawson đưa ra có phần thấp hơn so với các ước tính học thuật hiện đại. Bộ World Christian Encyclopedia của David Barrett (chính nguồn dữ liệu tôi đã dùng để vẽ biểu đồ trong Phần 5) ước tính tín hữu Cơ Đốc chiếm khoảng 33,7% dân số thế giới vào năm 1970, tức khoảng 1,25 tỷ người trên tổng dân số 3,7 tỷ thời đó, chứ không dừng lại ở mức 850 triệu. Sự chênh lệch khoảng 30% này khá tương đồng với xu hướng đánh giá quy mô Cơ Đốc giáo toàn cầu có phần dè dặt của Pawson (như đã thấy ở Phần 5). Dù vậy, lập luận mấu chốt của ông vẫn hoàn toàn vững chắc: dù con số thực tế là 850 triệu hay 1,25 tỷ người, một biến cố biến mất quy mô toàn cầu như vậy chắc chắn không thể là một sự việc diễn ra âm thầm không ai nhận biết.
Nguồn: World Christian Encyclopedia (Barrett), như đã trích trong Phần 5 của loạt bài này.

Các sách Phúc Âm. Ma-thi-ơ 24 là phân đoạn trọng tâm mà ông dựa vào nhiều nhất: Chúa Jêsus trực tiếp căn dặn các môn đồ của Ngài (chứ không phải đám đông dân chúng hay cộng đồng Do Thái giáo) về nạn chiến tranh, làn sóng bội đạo, việc thành Giê-ru-sa-lem được phục hồi, sự xuất hiện của Antichrist, cùng cơn đại nạn thử thách. Sau đó Ngài phán: "Ngay sau sự hoạn nạn của những ngày đó… Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng loa lớn mà nhóm hiệp những người được chọn của Ngài." Mạch văn rõ ràng bắt đầu bằng cơn đại nạn và kết thúc bằng sự tụ họp cất lên, hoàn toàn không có bất kỳ khoảng trống thời gian nào chen vào giữa.

Ông cũng liên hệ với bối cảnh lịch sử: phần lớn các Thư Tín Tân Ước đều được viết trước năm 70 SCN, khi biến cố thành Giê-ru-sa-lem bị quân La Mã vây hãm tàn phá vẫn còn ở phía trước, một sự kiện từng được chính Chúa Jêsus báo trước từng chi tiết. Theo lưu truyền được sử gia Eusebius ghi lại, cộng đồng Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem đã kịp thời lánh nạn sang thành Pella bên kia sông Giô-đan trước khi cuộc vây hãm siết chặt, nhờ đó "hơn một triệu người Do Thái bị sát hại nhưng không một Cơ Đốc nhân nào thiệt mạng", bởi họ đã ghi nhớ lời cảnh báo để chạy trốn kịp lúc.

✍︎Chạy trốn Pella: một truyền thống có thật, nhưng chưa được chứng minh, và một con số bị thổi phồng gấp đôi

Truyền thống về cuộc "chạy trốn sang Pella" là có thật trong sử liệu, nhưng chỉ bắt đầu được ghi chép trong các nguồn tài liệu từ thế kỷ thứ 4: cuốn Historia Ecclesiastica (3.5.3) của Eusebius (viết khoảng năm 312–324) và bộ Panarion (29–30) của Epiphanius (cuối thế kỷ 4), tức là hơn 240 năm sau khi biến cố xảy ra. Hoàn toàn không có bằng chứng văn bản nào từ thế kỷ thứ nhất: cả Tân Ước lẫn bộ sử đồ sộ Cuộc chiến Do Thái (Jewish War) của Josephus (viết khoảng năm 75–79 SCN, tường thuật vô cùng tỉ mỉ về cuộc vây hãm nhưng không hề đả động đến cuộc di tản của tín hữu Cơ Đốc). Giới sử học đã liên tục tranh luận về độ xác thực của truyền thống này kể từ khi học giả S.G.F. Brandon đặt nghi vấn vào năm 1951 (cho rằng việc đào thoát lúc đó là bất khả thi trước sự phong toả gắt gao của quân La Mã); một số nhà nghiên cứu khác (như Craig Koester năm 1989, hay Jonathan Bourgel năm 2010) cho rằng câu chuyện vẫn hàm chứa một ký ức lịch sử có thật, dù không ai trong số họ khẳng định phiên bản tuyệt đối như Pawson nói, rằng toàn bộ tín hữu đều an toàn thoát nạn.
Về con số "một triệu rưỡi người": không có tài liệu cổ đại hay hiện đại nào đưa ra con số này. Chính Josephus (Jewish War 6.9.3, đoạn 420), nguồn tài liệu mà có lẽ Pawson đang mượn ý, ước tính số người chết trong cuộc vây hãm là khoảng 1.100.000 người (cùng khoảng 97.000 người bị bắt làm tù binh), và ông giải thích rõ phần lớn nạn nhân là khách hành hương lễ Vượt Qua từ khắp xứ Judea bị mắc kẹt lại trong thành chứ không riêng dân cư Giê-ru-sa-lem. Ngay cả con số 1,1 triệu của Josephus cũng đã bị các sử gia hiện đại (như Menahem Stern) xem là con số phóng đại rất nhiều: dân số thực tế bên trong tường thành Giê-ru-sa-lem thời đó ước tính chỉ vào khoảng 60.000 đến 70.000 người, và dẫu có cộng thêm dòng người tị nạn chiến tranh lẫn khách hành hương thì cũng khó lòng chạm tới mốc một triệu. Như vậy, số liệu của Pawson không chỉ cao gấp rưỡi mức của Josephus, mà ngay cả nhận định "không một Cơ Đốc nhân nào thiệt mạng" cũng là phán đoán cá nhân của ông, chứ không phải một số liệu thống kê lịch sử có thể kiểm chứng, bởi không có tài liệu cổ nào đếm riêng số tín hữu sống sót.
Nguồn: Eusebius, Historia Ecclesiastica 3.5.3; Craig R. Koester, "The Origin and Significance of the Flight to Pella Tradition," Catholic Biblical Quarterly 51.1 (1989); Josephus, Jewish War 6.9.3 (đoạn 420); Siege of Jerusalem (70 CE), tổng hợp đánh giá của Menahem Stern.

Sách Khải Huyền. Pawson dẫn chứng hơn hai mươi phân đoạn khác nhau trong sách Khải Huyền, nơi "các thánh đồ" hay "dân sự của Đức Chúa Trời" được miêu tả là đang hiện diện trên đất xuyên suốt cơn đại nạn, không hề có giai đoạn nào mà Hội Thánh bị vắng bóng. Ông đặc biệt nhấn mạnh Khải Huyền 16:15, câu Kinh Thánh nằm ngay giữa bức tranh về trận chiến Ha-ma-ghê-đôn: "Kìa, Ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức." Nếu các thánh đồ đã được cất lên trước đại nạn từ lâu, thì tại sao lời kêu gọi "hãy tỉnh thức kẻo bị bắt gặp bất ngờ như kẻ trộm" (lời nhắc nhở vốn luôn dành cho người tin Chúa) lại xuất hiện ngay giữa bối cảnh trận Ha-ma-ghê-đôn?

Từ đó, ông rút ra kết luận mục vụ sâu sắc: Tân Ước dành "nhiều gấp hàng trăm lần" dung lượng để dạy về sự chịu khổ so với những lời nói về sự cất lên, và trách nhiệm của một người chăn bầy như ông là chuẩn bị cho các tín hữu tâm thế sẵn sàng đối diện với gian truân, chứ không phải ru ngủ họ bằng lời hứa hẹn về một lối thoát dễ dàng.


V. Kết luận mục vụ: chuẩn bị cho khổ nạn, không phải trốn thoát nó

Pawson dẫn ra hai chi tiết thời sự thời bấy giờ để minh hoạ cho lời cảnh báo về những cơn bức hại trong tương lai. Ông kể rằng "tại Trung Quốc ngày nay, sách Khải Huyền là phần Kinh Thánh được các tín hữu tìm đọc nhiều nhất", và nhận xét thêm như một sự trùng hợp thú vị rằng "chính quyền Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có đúng 666 đại biểu tham gia nghị trường". Ông cũng trích dẫn một dự báo đô thị hoá gây sốc: "đến năm 2074, các nhà quy hoạch cảnh báo rằng 98% dân số thế giới sẽ sống tập trung trong một đô thị khổng lồ duy nhất… chỉ còn vỏn vẹn 2% cư dân ở lại vùng nông thôn".

✍︎666 đại biểu, và một siêu đô thị chưa từng có thật

Không có bất kỳ kỳ họp nào của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc (NPC) từng ghi nhận đúng 666 thành viên. Kỳ họp khoá III, trên danh nghĩa kéo dài suốt giai đoạn Cách mạng Văn hoá (1964–1975), có tới 3.040 đại biểu; khoá II (1959–1964) có 1.235 người; khoá IV (1975–1978) có 2.864 người; và kể từ năm 1982, luật pháp nước này quy định số lượng đại biểu tối đa không vượt quá 3.000. Con số "666" hoàn toàn không khớp với bất kỳ dữ liệu lưu trữ nào, và gần như chắc chắn là một cách nói mang tính "số học biểu tượng" trên bục giảng hơn là một cứ liệu lịch sử. Về nhận định sách Khải Huyền là "cuốn sách được đọc nhiều nhất" tại Trung Quốc: không có cơ quan học thuật, giáo hội hay hội Kinh Thánh nào từng làm khảo sát định lượng theo tiêu chí này. Dù điều đó rất dễ hiểu về mặt tâm lý (bởi văn chương khải huyền luôn đem lại niềm an ủi to lớn cho những người đang chịu bức hại), nó vẫn không thể xem là một thống kê chính thức.
Thực tế lịch sử còn đáng chú ý hơn thế: thời kỳ Cách mạng Văn hoá (1966–1976) quả thực là giai đoạn thử thách nghiệt ngã nhất đối với cộng đồng Cơ Đốc nhân Trung Quốc hiện đại. Các nhà thờ bị đóng cửa, Kinh Thánh bị tiêu huỷ, các mục sư và tín hữu bị cầm tù và tra tấn, mọi hình thức thờ phượng công khai đều bị cấm đoán ngặt nghèo. Thế nhưng, các hội thánh tư gia dưới lòng đất vẫn kiên cường tồn tại và sau đó bùng nổ mạnh mẽ, như được ghi lại rất sống động trong cuốn The Resurrection of the Chinese Church của Tony Lambert (1991): tín hữu tụ họp trong các đường hầm mỏ than hay hang núi hẻo lánh, khéo léo kẹp sách thánh ca vào trong bìa cuốn sách đỏ của Mao Trạch Đông, và làn sóng tăng trưởng được dẫn dắt bền bỉ bởi những phụ nữ bình dị đã thuộc lòng từng trang Lời Chúa.
Về dự báo "98% dân số sống trong một thành phố vào năm 2074": đây không phải con số của Liên Hiệp Quốc hay Ngân hàng Thế giới, mà là một chi tiết phóng tác từ dự đoán của kiến trúc sư quy hoạch người Hy Lạp Constantinos Doxiadis vào năm 1962. Ông là người đưa ra khái niệm "Ecumenopolis" (một siêu đô thị bao phủ toàn địa cầu), dựa trên phép ngoại suy tốc độ phát triển thời đó để phỏng đoán rằng dân số thế giới sẽ đạt 50 tỷ người vào năm 2100 với tỷ lệ đô thị hoá lên tới 98% trên diện tích 48 triệu km². Đó là một trào lưu tư tưởng về kiến trúc tương lai (megastructuralism) khá thịnh hành vào thập niên 1960 (tương tự khái niệm "Megalopolis" của Jean Gottmann năm 1961 hay cuốn sách "The Year 2000" của Herman Kahn và Anthony Wiener năm 1967), chứ chưa bao giờ là quan điểm đồng thuận của giới nhân khẩu học. Trên thực tế, tỷ lệ đô thị hoá toàn cầu năm 2024 đạt khoảng 57,7% (theo Ngân hàng Thế giới), Liên Hiệp Quốc dự báo sẽ đạt khoảng 68% vào năm 2050 (còn cách rất xa mốc 98%), và quy mô dân số thế giới được dự báo sẽ đạt đỉnh ở mức khoảng 10 đến 10,3 tỷ người, chứ khó có thể chạm tới con số 50 tỷ như mô hình của Doxiadis.
Nguồn: npcobserver.com (cách phân bổ ghế NPC); Tony Lambert, The Resurrection of the Chinese Church (1991); en.wikipedia.org/wiki/Ecumenopolis; Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ dân số đô thị 2024; Liên Hiệp Quốc, World Urbanization Prospects (2018, cập nhật 2025).

Pawson đúc kết toàn bộ lời khuyên thực tế của mình vào một câu Kinh Thánh mà ông gọi là "từ khoá và kim chỉ nam": Lu-ca 21:36, "Hãy cầu nguyện để các con có sức đứng vững… và để trốn thoát." Ông nhấn mạnh rằng từ "đứng vững" trong nguyên ngữ là một từ mang sức nặng rất lớn, thường được dùng trong tình cảnh bị dồn ép đến bước đường cùng và không còn chỗ để lui. Ông cho rằng Hội Thánh luôn cần cầu xin cả hai điều: có đủ sức để lánh nạn khi còn cơ hội, và có đủ sự kiên cường để đứng vững khi không còn đường lui. Ông cũng nhắc lại gương của Hê-nóc và Ê-li, hai nhân vật duy nhất trong Kinh Thánh được đem về trời mà không trải qua sự chết, như một "hình bóng báo trước" cho thế hệ tín hữu cuối cùng. Nhưng ông nói rõ điều ấy chỉ dành cho những ai đã sống sót bước qua cơn đại nạn, chứ không phải một sự đảm bảo rằng họ sẽ được cất đi trước khi gian nan ập tới.

Ông chia sẻ một bài học cá nhân: một người từng tâm sự với ông rằng nếu chúng ta chịu đón nhận những thử thách nhỏ trong đời sống hiện tại, biết đứng vững trước những lời chê cười dị nghị, thì Chúa sẽ ban thêm ân điển cho những cơn thử thách lớn hơn sau này. Nếu không thể trung tín trong việc nhỏ bây giờ, ta khó lòng đứng vững trước những biến cố lớn trong tương lai. Ông cũng kể về những gia đình Cơ Đốc nhân mà ông quen biết đã chủ động chuyển về các nông trại xa xôi để sống tự lập, chuẩn bị tinh thần rời xa đô thị khi hoàn cảnh đổi thay: không phải để tìm kiếm sự tuận đạo một cách mù quáng, mà là sự khôn ngoan gìn giữ gia đình theo đúng lời căn dặn của Chúa Jêsus trong Ma-thi-ơ 24 và tinh thần cầu nguyện của Lu-ca 21:36.

Ông khép lại bài chia sẻ bằng lời đề tựa của một cuốn sách mà ông từng đọc, nơi tác giả biết trước sẽ có nhiều độc giả không cùng chung quan điểm với mình: "Dù bạn có thể chưa được thuyết phục hoàn toàn, nhưng chúng ta là những người cùng nương cậy nơi một Cứu Chúa duy nhất… cùng đối diện với sự tấn công của một kẻ thù chung, cùng bị một thế gian khước từ, cùng được giải cứu khỏi một chốn hư mất và cùng hướng về một vinh quang rực rỡ. Chúng ta, những người cùng chia sẻ nhiều nền tảng chung đến thế, lẽ nào lại để lòng mình hay sự phục vụ bị chia rẽ chỉ vì những bất đồng trong vấn đề thứ yếu này? Cầu xin Chúa gìn giữ chúng ta khỏi điều đó."


Điều Pawson không kể: Công giáo, Chính Thống giáo, và bức tranh Tin Lành ngày nay

Cũng tương tự như việc Phần 5 đã bổ sung thêm bức tranh về Công Đồng Vatican II vào một bài giảng vốn không nhắc tới nó, phần này cần mở rộng một lăng kính toàn cảnh hơn mà Pawson, khi giảng cho một hội chúng Báp-tít tại Anh vào năm 1967, chưa có dịp đề cập đến.

Về phía Công giáo, thần học Công giáo hoàn toàn không có khái niệm về một sự "cất lên" tách biệt. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (các mục 668–682) cùng Hiến chế Lumen Gentium 48 dạy về một sự Tái Lâm duy nhất trọn vẹn và không chia giai đoạn: Đấng Christ hiện đang cai trị qua Hội Thánh (vương quốc đã khởi phát nhưng chưa viên mãn), Hội Thánh sẽ phải trải qua cơn thử thách đức tin sau cùng dưới thời Antichrist (mục 675–676), và cơn thử thách ấy sẽ được khép lại tức thì bằng sự Hiện Xuất của Đấng Christ, cùng một cuộc tổng phục sinh và một cuộc phán xét chung (mục 678–682). Hoàn toàn không có chỗ cho một biến cố "cất lên" riêng rẽ trước đó. Sắc lệnh năm 1944 của Thánh Bộ Văn phòng còn minh định rằng ngay cả hình thức "thiên hi niên ôn hoà" (quan niệm Đấng Christ sẽ cai trị hữu hình trên đất trước cuộc phán xét chung) "cũng không thể được giảng dạy một cách an toàn". Điều này định vị cánh chung luận Công giáo vững chắc trong truyền thống vô thiên hi niên (amillennialism) theo thánh Augustine, khác biệt hoàn toàn về mặt cấu trúc với khung tiền thiên hi niên mà cả Pawson lẫn phái dispensational cùng chia sẻ.

Về phía Chính Thống giáo Đông phương, truyền thống này cũng khẳng định một sự Tái Lâm duy nhất, hữu hình và phổ quát cho toàn nhân loại (như lời tuyên xưng trong Kinh Tin Kính Nicê), đồng thời xem học thuyết cất lên bí mật như một sáng kiến thần học mới mẻ của Tin Lành phương Tây thế kỷ 19. Chính Thống giáo không bao giờ xây dựng một thời biểu phân chia rạch ròi giữa đại nạn, cất lên và ngàn năm như cách làm của Pawson. Cách giải nghĩa Khải Huyền 20 mang tính chính thống của họ (theo thánh Andrew thành Caesarea từ thế kỷ thứ 7) mang tính tượng trưng và vô thiên hi niên, tương tự như thánh Augustine ở phương Tây. Thay vì lập niên biểu biến cố, trọng tâm cánh chung luận của Chính Thống giáo xoay quanh giáo lý theosis (sự thần hoá), "ngày thứ tám", cùng sự biến đổi diệu kỳ của muôn loài tạo vật. Họ nhìn nhận Ngày Sau Cùng như một thực tại mầu nhiệm mà Hội Thánh và vũ trụ đang dự phần một cách bí tích ngay trong hiện tại, đặc biệt là qua thánh lễ Thánh Thể, hơn là một chuỗi sự kiện tương lai cần được sơ đồ hoá.

Ngay trong nội bộ giới Tin Lành hiện nay, mọi sự cũng không còn đóng khung trong thế lưỡng cực như thời Pawson. Một cuộc khảo sát của Pew vào năm 2022 cho thấy chỉ có khoảng 44% tín hữu Tin Lành tại Mỹ nắm giữ quan điểm tiền thiên hi niên (tính gộp cả phái thời đại dispensational lẫn tiền thiên hi niên lịch sử), trong khi có tới 45% người được hỏi thẳng thắn chia sẻ rằng họ không rõ về thời điểm. Dù thuyết dispensationalism vẫn rất phổ biến trong văn hoá đại chúng (bộ tiểu thuyết Left Behind từng bán được từ 65 đến 80 triệu bản), sức ảnh hưởng học thuật của nó đã suy giảm đáng kể kể từ giai đoạn đỉnh cao thập niên 1970–1990, ngay tại chính Chủng viện Thần học Dallas (DTS), nơi từng là cái nôi nuôi dưỡng tư tưởng của Scofield. Quan điểm hậu đại nạn của Pawson, vốn gắn liền với các công trình nghiên cứu của học giả George Eldon Ladd, vẫn giữ một vị trí học thuật đáng tôn trọng, dẫu chưa bao giờ đạt được mức độ phổ biến đại chúng rầm rộ như hệ thống dispensationalism.

Bức Tranh Hôm Nay

Tín hữu Tin Lành Mỹ nghĩ gì về thời điểm, 2022

Tiền đại nạn (dispensational)44%

gồm mọi quan điểm tiền thiên hi niên

Không chắc / không biết thời điểm45%
Hậu thiên hi niên3%

Dispensationalism vẫn là hình dung phổ biến nhất về Rapture trong văn hoá đại chúng Mỹ (loạt tiểu thuyết Left Behind bán 65–80 triệu bản), nhưng khi hỏi thẳng, chưa tới một nửa tín hữu Tin Lành xác định rõ một lập trường tiền thiên hi niên, gần một nửa nói họ không chắc. Quan điểm hậu đại nạn của chính Pawson, gắn liền với học giả George Eldon Ladd, vẫn là một truyền thống học thuật nghiêm túc dù chưa bao giờ có được vị thế đại chúng như dispensationalism. Còn Amillennial (không có một thiên hi niên trên đất) vẫn là lập trường chính thức mặc định của Công giáo, Chính Thống giáo, và phần lớn khối Cải cách/Luther, tức đa số Cơ Đốc nhân thế giới theo con số thô.

Nguồn: Pew Research Center, khảo sát 2022 về niềm tin thiên hi niên của tín hữu Tin Lành Mỹ.


Khép lại loạt bài

Trải qua sáu phần đồng hành, từ một nhóm môn đồ ít ỏi không tiền bạc và không chỗ đứng trong xã hội cho tới những cuộc đối thoại sôi nổi về ngày tận chung của thế giới, chúng ta thấy lại cùng một dòng chảy mà Pawson đã khắc hoạ từ Phần 1: Hội Thánh sơ khai đã đắc thắng ba thử thách cam go đầu tiên mà không cần đến gươm giáo của quân đội, không cậy vào tiền bạc dư dật, cũng không nhờ cậy những nhân vật quyền thế. Bài giảng sau cùng của ông không vẽ ra một bức tranh chiến thắng theo thước đo phàm tục của con người, không hứa hẹn một tổ chức giáo hội bề thế độc tôn, không cam kết sự đón nhận nồng nhiệt từ xã hội, cũng không bảo đảm một con đường êm ả né tránh mọi gian truân. Thay vào đó, ông hướng chúng ta đến một bức tranh khác: một Hội Thánh học biết khiêm nhường trước sức sống tươi mới của những anh em phương Nam, can đảm chuẩn bị tâm thế đối diện với thử thách thay vì tìm cách trốn chạy, và gìn giữ niềm hy vọng vững chắc vào ngày Chúa trở lại như một bảo chứng chắc chắn tuyệt đối cho tương lai.

Điều thú vị là những điều ông dự phóng chuẩn xác nhất, rằng Hội Thánh sẽ vừa gắn kết hơn lại vừa phân rẽ hơn, và trọng tâm đức tin sẽ chuyển dịch về phương Nam, lại là những điều ông ít khẳng định nhất khi đứng trên bục giảng, chỉ xem đó là "những suy đoán cá nhân" cho hai mươi năm tới. Trong khi đó, điều ông xác quyết mạnh mẽ nhất, trật tự thời gian giữa cơn đại nạn và ngày tái lâm, sau gần sáu thập niên vẫn tiếp tục là chủ đề mà nhiều tín hữu chân thành kính sợ Chúa còn mang những góc nhìn rất khác nhau.