기사 데이터 테이블

Jeremiah

장 33

Protestant · VIE1925

번역 비교

두 열 모두 동일한 책, 장 및 절을 따릅니다.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)기본 번역

1Trong khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng người lần thứ hai rằng:

2Đức Giê-hô-va là Đấng làm nên sự nầy, Đức Giê-hô-va là Đấng tạo và lập sự nầy, danh Ngài là Giê-hô-va, phán như vầy:

3Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.

4Về nhà cửa của thành nầy và cung điện của vua Giu-đa, mà người ta đã phá đi để ngự lại đồn lũy và gươm dao của giặc, thì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy:

5Khi đi đánh cùng người Canh-đê, nhà cửa nầy sẽ đầy dẫy xác chết của những người mà ta đã giết trong cơn giận và thạnh nộ của ta; ấy là vì cớ dân nầy hung ác mà ta đã lánh mặt khỏi thành đó.

6Nầy, ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật.

7Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù Y-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước.

8Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta; ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta, và đã phạm pháp nghịch cùng ta.

9Thành nầy sẽ có danh vui vẻ, ngợi khen, vinh hiển cho ta ở trước mặt mọi dân thiên hạ; họ sẽ nghe mọi sự lành ta làm cho chúng nó, thì đều sợ hãi và run rẩy về mọi phước lành cùng mọi sự bình an mà ta sẽ ban cho chúng nó.

10Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong chốn nầy là nơi các ngươi nói: Aáy là một nơi hoang vu; không còn có loài người, cũng không có loài thú; trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem, tức những nơi đã bị hoang vu, không người, không dân ở, cũng không loài thú,

11thì người ta sẽ còn nghe tiếng kêu vui và reo mừng, tiếng của rể mới và dâu mới, tiếng của những kẻ nói rằng: Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vạn quân, vì Đức Giê-hô-va là nhân lành, sự nhân từ của Ngài còn đời đời! và của những kẻ đến dân của lễ tạ ơn trong nhà Đức Giê-hô-va. Vì ta sẽ khiến những phu tù của đất nầy trở về, làm cho như trước, Đức Giê-hô-va đã phán.

12Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong chỗ nầy là chỗ bị hoang vu, không có loài người nữa, cũng không có loài thú, và trong mọi thành nó, lại sẽ có những gia cư của kẻ chăn chiên khiến bầy mình nằm nghỉ.

13Trong những thành miền núi và những thành đồng bằng, trong những thành phương nam, trong đất Bên-gia-min, trong các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem và trong các thành Giu-đa, những bầy sẽ lại qua dưới tay kẻ đếm, Đức Giê-hô-va phán vậy.

14Đức Giê-hô-va lại phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm ứng nghiệm lời tốt lành mà ta đã phán về nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.

15Trong những ngày ấy và kỳ đó ta sẽ khiến nẩy lên một Nhánh của sự công bình cho Đa-vít; Đấng ấy sẽ làm ra sự công bình chánh trực trong đất nầy.

16Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được cứu; Giê-ru-sa-lem sẽ ở an ổn; danh nó sẽ được xưng rằng: Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta.

17Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà Y-sơ-ra-ên;

18các thầy tế lễ, tức là người Lê-vi, sẽ cũng không thiếu một người trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, đốt của lễ chay, và dâng của lễ hằng ngày.

19Có lời Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi rằng:

20Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi có thể phá giao ước ban ngày của ta và giao ước ban đêm của ta, đến nỗi chẳng có ngày và đêm trong kỳ nó nữa,

21thì mới có thể phá giao ước của ta với Đa-vít, tôi tớ ta, mà người sẽ không có con cháu trị vì trên ngai mình nữa, và phá giao ước ta với các thầy tế lễ, tức người Lê-vi, kẻ hầu việc ta.

22Người ta không thể đếm được cơ binh trên trời, và lường cát dưới biển: ta cũng sẽ ban cho Đa-vít, tôi tớ ta, và cho người Lê-vi hầu việc ta, được dòng dõi đông nhiều như vậy.

23Có lời của Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi như vầy:

24Ngươi há chẳng xét dân nầy nói hay sao? Chúng nó nói: Hai họ mà Đức Giê-hô-va đã kén chọn, thì Ngài bỏ rồi. Như vậy, chúng nó khinh dể dân ta, coi dân nầy chẳng thành một nước nữa!

25Nhưng, nầy là lời Đức Giê-hô-va phán: Nếu giao ước của ta về ngày và đêm chẳng đứng, và nếu ta đã chẳng định luật phép cho trời và đất,

26thì cũng vậy, ta sẽ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và dòng dõi của Đa-vít, tôi tớ ta, đến nỗi ta sẽ chẳng lấy trong vòng dòng dõi người những kẻ cai trị dòng dõi của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Gia-cốp. Vì ta sẽ đem những phu tù trở về, và thương xót chúng nó.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)비교번역

1Khi ông Giê-rê-mi-a vẫn còn bị nhốt trong sân vệ binh, lại có lời ĐỨC CHÚA phán với ông lần thứ hai rằng :

2ĐỨC CHÚA, Đấng đã làm ra trái đất, đã nắn ra và làm cho nó được vững bền –danh Người là ĐỨC CHÚA– Người phán thế này :

3Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời ngươi và sẽ tỏ cho ngươi biết những điều lớn lao và bí ẩn mà ngươi không biết.

4Vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán như sau về nhà cửa trong thành này và cung điện các vua Giu-đa, những nhà sắp bị tàn phá vì ụ và gươm,

5về những người kéo đến chống quân Can-đê nhưng lại làm cho thành đầy tử thi, đầy xác những kẻ Ta đã đánh chết trong cơn bực tức và giận dữ ; vì tất cả những điều gian ác của chúng mà Ta đã ngoảnh mặt đi, không nhìn đến thành này nữa.

6Nhưng, Ta sẽ mang lại cho nó một phương thuốc điều trị, sẽ chữa lành, sẽ tỏ cho chúng thấy một cảnh thái bình và một nền an ninh lâu dài.

7Ta sẽ đổi vận mệnh của Giu-đa và Ít-ra-en, sẽ xây dựng chúng như thuở ban đầu.

8Ta sẽ thanh tẩy chúng cho sạch mọi điều gian ác chúng đã phạm, khiến chúng đắc tội với Ta. Ta sẽ thứ tha mọi điều gian ác chúng đã phạm khiến chúng đắc tội với Ta và phản lại Ta.

9Đối với Ta, Giê-ru-sa-lem sẽ là một danh hiệu để hân hoan, là một lời ca ngợi, một vẻ huy hoàng trước toàn thể chư dân trên mặt đất, vì chư dân sẽ nghe biết mọi điều tốt lành Ta sẽ làm cho chúng. Họ sẽ sợ hãi và run rẩy vì tất cả mọi điều tốt lành, tất cả sự bình an Ta sẽ thực hiện cho thành ấy.

10ĐỨC CHÚA phán thế này : Tại nơi đây, nơi mà các ngươi gọi là một đống hoang tàn, không có người cũng không có vật, tại các thành Giu-đa, các phố phường bị tàn phá của Giê-ru-sa-lem, nơi không có người, không có dân cư, không có súc vật, tại nơi này vẫn còn nghe thấy

11tiếng reo mừng hỷ hoan, tiếng hát của cô dâu chú rể, tiếng của những kẻ mang lễ vật tạ ơn lên Nhà ĐỨC CHÚA mà nói : “Hãy tạ ơn ĐỨC CHÚA các đạo binh, vì Đức Chúa nhân lành, vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương !” Vì Ta sẽ đổi vận mệnh xứ này và làm cho nó lại được như thuở ban đầu, ĐỨC CHÚA phán.

12ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này : Tại nơi đây, nơi hoang tàn không có người cũng không có vật, và trong tất cả các thành của nó, sẽ vẫn còn có những đồng cỏ cho các mục đồng thả chiên nằm nghỉ.

13Tại các thành miền núi, các thành vùng Sơ-phê-la, và các thành vùng Ne-ghép, trong đất Ben-gia-min, vùng phụ cận Giê-ru-sa-lem và tại các thành Giu-đa, chiên cừu vẫn còn được lùa qua, dưới bàn tay của người kiểm số chiên – ĐỨC CHÚA phán như vậy.

14Này, sẽ đến những ngày –sấm ngôn của ĐỨC CHÚA– Ta sẽ thực hiện điều tốt lành Ta đã phán về nhà Ít-ra-en và về nhà Giu-đa.

15Người sẽ trị nước theo lẽ công bằng chính trực.

16“ĐỨC CHÚA là-sự-công-chính-của-chúng-ta !”

17Vì ĐỨC CHÚA phán thế này : Đa-vít sẽ không bao giờ thiếu người ngự trên ngai báu nhà Ít-ra-en.

18Các tư tế Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người phục vụ trước nhan Ta để dâng lễ toàn thiêu, đốt hương làm lễ vật, và cử hành hy lễ mọi ngày.

19Lại có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giê-rê-mi-a rằng :

20ĐỨC CHÚA phán thế này : Nếu các ngươi phá vỡ được giao ước của Ta với ngày, và giao ước của Ta với đêm, đến nỗi không có ngày và đêm đắp đổi nhau,

21thì giao ước của Ta với Đa-vít, tôi tớ Ta, cũng sẽ bị phá vỡ, tức là nó sẽ không có con cháu trị vì trên ngôi báu của nó và chẳng còn các thầy Lê-vi, các tư tế phục vụ Ta nữa.

22Cũng như không thể đếm được đạo binh trên trời và chẳng sao kể hết cát dưới biển, Ta sẽ làm cho dòng dõi Đa-vít, tôi tớ Ta và các thầy Lê-vi phục vụ Ta, tăng nhiều như thế.

23Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giê-rê-mi-a rằng :

24“Ngươi chẳng thấy sao ? Dân này từng nói : hai thị tộc ĐỨC CHÚA đã chọn, Người đã bỏ rồi !” Bởi thế, chúng khinh dể dân Ta, coi như không phải là một dân tộc trước mặt chúng nữa.

25ĐỨC CHÚA phán thế này : Nếu Ta không dựng nên ngày và đêm, nếu Ta không đặt ra quy luật cho trời và đất,

26thì Ta sẽ vứt bỏ dòng dõi Gia-cóp và Đa-vít, tôi tớ Ta, không còn lấy từ dòng dõi ấy những kẻ cai trị con cháu Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp nữa ! Quả thật, Ta sẽ đổi vận mệnh chúng và sẽ xót thương chúng.

구절이 클립보드에 복사되었습니다