기사 데이터 테이블

Ecclesiastes

장 6

Catholic · DRA

번역 비교

두 열 모두 동일한 책, 장 및 절을 따릅니다.

DRADouay-Rheims 1899 (Catholic)기본 번역

1There is also another evil, which I have seen under the sun, and that frequent among men:

2A man to whom God hath given riches, and substance, and honour, and his soul wanteth nothing of all that he desireth: yet God doth not give him power to eat thereof, but a stranger shall eat it up. This is vanity and a great misery.

3If a man beget a hundred children, and live many years, and attain to a great age, and his soul make no use of the goods of his substance, and he be without burial: of this man I pronounce, that the untimely born is better than he.

4For he came in vain, and goeth to darkness, and his name shall be wholly forgotten.

5He hath not seen the sun, nor known the distance of good and evil:

6Although he lived two thousand years, and hath not enjoyed good things: do not all make haste to one place?

7All the labour of man is for his mouth, but his soul shall not be filled.

8What hath the wise man more than the fool? and what the poor man, but to go thither, where there is life?

9Better it is to see what thou mayst desire, than to desire that which thou canst not know. But this also is vanity, and presumption of spirit.

10He that shall be, his name is already called: and it is known, that he is man, and cannot contend in judgment with him that is stronger than himself.

11There are many words that have much vanity in disputing.

이 번역에는 이 구절이 포함되어 있지 않습니다.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)비교번역

1Dưới ánh mặt trời, tôi đã nhìn thấy một sự dữ, đó là một sự dữ lớn đối với con người.

2Có kẻ được Thiên Chúa ban của cải, tài sản và vinh dự. Người ấy muốn gì được nấy, chẳng thiếu thốn chi. Nhưng Thiên Chúa không cho người ấy hưởng những thứ đó, mà lại cho một người khác hưởng. Đó cũng là một chuyện phù vân, một sự dữ làm tôi đau đớn.

3Giả như có người con đàn cháu đống, sống lâu trăm tuổi, nhưng người ấy lại sống không mảy may hạnh phúc, chết chẳng có mồ chôn, thì tôi buộc phải nói : người ấy kém may mắn hơn cả thai nhi chết yểu.

4Quả thật, thai nhi chết yểu đến không kèn, đi không trống, tên tuổi bị chôn vùi trong tối tăm.

5Ngay ánh mặt trời, nó không hề thấy, cũng chẳng hề biết. Nhưng chính nó mới là người được an nghỉ, chứ đâu phải người kia.

6Giả như người ấy có sống được hai ngàn năm đi nữa, mà vẫn không cảm thấy hạnh phúc, thì sống để làm gì ? Chẳng phải hết mọi người đều cùng đi về một chỗ đó sao ?

7Mọi nỗi khó nhọc của con người đều nhằm nuôi cái miệng. Nhưng sự thèm muốn của họ có bao giờ được hoàn toàn thoả mãn đâu !

8Người nghèo mà biết xử thế, có được lợi gì không ?

9Bắt được mồi hơn chạy theo bóng. Nhưng đó cũng chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.

10và họ không thể tranh cãi với ai đó mạnh thế hơn mình.

11Quả thật, càng lắm lời, càng nhiều chuyện hão. Hỏi con người có được lợi chi ?

12Và nào ai biết được điều gì tốt nhất cho con người trong cuộc sống, trong chuỗi ngày của kiếp phù du, trong cuộc đời qua mau như chiếc bóng ? Nào có ai cho con người biết điều gì sẽ xảy ra dưới ánh mặt trời sau khi mình nhắm mắt xuôi tay ?

구절이 클립보드에 복사되었습니다