Tableau de données d'articles

Psalms

Chapitre 106

Protestant · VIE1925

Comparer les traductions

Les deux colonnes suivent le même livre, chapitre et verset.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Traduction principale

1Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.

2Ai có thể thuật các công việc quyền năng của Đức Giê-hô-va, Truyền ra hết sự ngợi khen của Ngài?

3Phước cho người nào gìn giữ sự đoan chánh, Và làm theo sự công bình luôn luôn!

4Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ lại tôi tùy ơn Ngài làm cho dân sự Ngài; Hãy lấy sự cứu rỗi mà đến viếng tôi,

5Hầu cho tôi thấy sự thới thạnh của kẻ được Ngài chọn, Hưởng sự vui vẻ của dân sự Ngài, Và được khoe mình với cơ nghiệp Ngài.

6Chúng tôi và tổ phụ chúng tôi đã phạm tội; Chúng tôi có phạm sự gian tà, và làm cách hung ác.

7Tại Ê-díp-tô tổ phụ chúng tôi không chăm chỉ về các phép lạ Chúa, Cũng chẳng nhớ lại sự nhân từ dư dật của Chúa; Nhưng lại phản nghịch bên biển, tức là Biển đỏ.

8Dầu vậy, Ngài cứu họ vì cớ danh Ngài, Hầu cho bày ra quyền năng của Ngài.

9Ngài quở Biển đỏ, nó bèn khô; Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên đi ngang qua vực sâu như ngang đồng vắng.

10Ngài giải cứu họ khỏi tay kẻ ghen ghét, Chuộc họ khỏi tay kẻ thù nghịch.

11Nước chụp phủ những kẻ hà hiếp họ; Chẳng còn lại một người.

12Bấy giờ họ mới tin lời của Ngài, Bèn hát ngợi khen Ngài.

13Họ lại mau mau quên các công việc Ngài, Không chờ đợi lời chỉ giáo Ngài,

14Nhưng có lòng tham dục quá đỗi tại trong đồng vắng, Và thử Đức Chúa Trời nơi vắng vẻ.

15Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin; Nhưng sai bịnh tổn hại linh hồn chúng nó.

16Trong trại quân họ ganh ghét Môi-se Và A-rôn, là người thánh của Đức Giê-hô-va.

17Đất hả ra nuốt Đa-than, Và lấp bọn A-bi-ran.

18Có lửa phát cháy trong hội chúng nó, Ngọn lửa thiêu đốt những kẻ ác.

19Tổ phụ tôi làm một bò tơ tại Hô-rếp, Thờ lạy trước mặt hình đúc;

20Họ đổi sự vinh hiển mình Ra hình dạng con bò ăn cỏ.

21Họ quên Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi mình, Và đã có làm công việc lớn lao ở Ê-díp-tô,

22Những việc lạ k” trong xứ Cham, Và các điều đáng kinh hãi ở bên Biển đỏ.

23Vì vậy, Ngài phán rằng sẽ diệt chúng nó đi; Nhưng Môi-se, là kẻ Ngài chọn, đứng nơi triệt hạ trước mặt Ngài, Đặng can gián cơn giận Ngài, e Ngài hủy diệt họ chăng.

24Tổ phụ chúng tôi khinh bỉ xứ tốt đẹp, Không tin lời của Chúa,

25Song nói lằm bằm trong trại mình, Không nghe tiếng Đức Giê-hô-va.

26Vì vậy, Ngài thề cùng chúng nó rằng: Sẽ làm chúng nó sa ngã trong đồng vắng,

27Khiến dòng dõi họ sa ngã giữa muôn nước, Và làm tản lạc họ trong các xứ.

28Tổ phụ chúng tôi cũng cúng thờ Ba-anh-Phê-ô, Aên của lễ cúng kẻ chết;

29Như vậy họ chọc giận Đức Chúa Trời vì những việc làm của họ, Và ôn dịch bèn phát ra giữa họ.

30Bấy giờ Phi-nê-a chỗi dậy đoán xét, Và ôn dịch bèn ngừng lại.

31Từ đời nầy qua đời kia việc đó kể cho người là công bình, Cho đến đời đời vô cùng.

32Tổ phụ chúng tôi cũng chọc giận Ngài tại nước Mê-ri-ba, Nên, vì cớ họ, có tai họa xảy đến cho Môi-se;

33Aáy vì họ chọc rối trí người, Nên người nói những lời vô-ý.

34Họ không hủy diệt các dân, Y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ;

35Nhưng lại pha lộn với các dân, Tập theo công việc chúng nó,

36Và hầu việc hình tượng chúng nó, Là điều gây làm cái bẫy cho mình.

37Họ bắt con trai con gái mình Mà cúng tế ma quỉ.

38Làm đổ huyết vô tội ra, Tức là huyết của con trai con gái mình, Mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an; Nên xứ bị ô uế bởi huyết ấy.

39Như vậy, họ làm cho mình bị ô uế vì công việc mình, Lấy sự làm mình mà thông dâm.

40Nhân đó cơn giận Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, Ngài gớm ghiếc cơ nghiệp mình;

41Ngài phó họ vào tay các ngoại bang; Những kẻ ghen ghét họ cai trị trên họ.

42Kẻ thù nghịch cũng hà hiếp tổ phụ chúng ta. Họ bị phục dưới tay chúng nó.

43Nhiều lần Chúa giải cứu tổ phụ chúng ta, Nhưng họ phiền lòng Ngài bởi ý muốn họ, Và họ hèn mọn vì tội ác của họ.

44Dầu vậy, khi nghe tiếng kêu cầu của họ, Ngài bèn đoái xem họ trong cơn gian truân họ,

45Nhớ lại vì họ giao ước mình, Và thương xót họ tùy sự nhân từ dư dật của Ngài.

46Ngài cũng làm cho họ được ơn Bên những kẻ bắt họ làm phu tù.

47Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chúng tôi, xin hãy cứu chúng tôi, Nhóm hiệp chúng tôi từ giữa các nước, Hầu cho chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, úa, Và khoe mình về sự ngợ hen Chúaa.

48Đáng ngợi khen Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời mãi mãi! Cả dân sự khá nói: A-men! Ha-lê-lu-gia!

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traduction de comparaison

1muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

2sẽ công bố mọi câu tán tụng Người ?

3và hằng thực thi điều chính trực !

4xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ.

5và cùng hiên ngang với gia nghiệp của Ngài.

6đã ở bất công, làm điều gian ác.

7và phản loạn ở nơi Biển Đỏ.

8để biểu dương uy vũ của Người.

9khác nào đi giữa chốn hoang vu.

10giải thoát họ khỏi tay địch thù :

11Nước dìm quân đối nghịch, không một kẻ thoát thân.

12và hát lên bài tán tụng Người.

13chẳng đợi lệnh Người ban.

14chốn hoang vu, họ thách thức Chúa Trời.

15cho dư đầy đến độ chán ngấy.

16và A-ha-ron, người được CHÚA thánh hiến.

17chôn vùi bọn A-vi-ram cả lũ.

18ngọn hoả hào thiêu rụi phường gian ác.

19rồi phủ phục tôn thờ tượng đó.

20Họ đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ.

21từng làm việc lớn lao bên miền Ai-cập,

22việc khiếp kinh giữa lòng Biển Đỏ.

23hầu ngăn cơn thịnh nộ, kẻo Chúa diệt trừ dân.

24chẳng tin tưởng chi vào lời Chúa phán,

25chẳng thèm nghe tiếng CHÚA.

26sẽ làm họ gục ngã trong miền sa mạc,

27phân tán họ đi nhiều miền khác.

28và ăn của lễ cúng dâng người chết,

29khiến tai ương ập xuống trên đầu.

30Pin-khát liền đứng ra phân xử, tai hoạ bỗng dứt ngay.

31việc ông làm được coi là công chính.

32khiến Mô-sê vì họ mà chuốc hoạ vào thân,

33mở miệng ra ông đã lỡ lời.

34mà CHÚA đã chỉ định,

35học đòi những hành vi của chúng.

36đó chính là cạm bẫy họ sa chân.

37Họ giết con mình cả trai lẫn gái, mà hiến quỷ tế thần.

38và vì máu này, đất đã ra ô uế.

39phản bội tình yêu Chúa bằng những việc họ làm.

40Người tởm kinh gia nghiệp của mình,

41Kẻ thù thống trị họ,

42dưới bàn tay chúng, họ khom lưng cúi đầu.

43đắm chìm trong tội ác của mình.

44nghe thấy lời cầu cứu van xin.

45mở lượng hải hà, Người chạnh lòng thương,

46và khiến những ai bắt họ đi đày, cũng động lòng trắc ẩn.

47và được hiên ngang tán dương Ngài.

48Toàn dân hãy hô lớn : A-men ! A-men !

Verset copié dans le presse-papiers