Tableau de données d'articles

Jeremiah

Chapitre 39

Protestant · VIE1925

Comparer les traductions

Les deux colonnes suivent le même livre, chapitre et verset.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Traduction principale

1Năm thứ chín về đời Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến với cả đạo binh mình, vây thành Giê-ru-sa-lem.

2Năm thứ mười một về đời Sê-đê-kia, tháng tư, ngày mồng chín, thành bị vỡ.

3Hết thảy các quan trưởng của vua Ba-by-lôn vào thành và ngồi cửa giữa. Aáy là Nẹt-gan-Sa-rết-sê, Sam-ga-Nê-bô, Sa-sê-kim, làm đầu hoạn quan, Nẹt-gan-Sa-rết-sê, làm đầu các bác sĩ, cùng các quan trưởng khác của vua Ba-by-lôn.

4Sê-đê-kia, vua Giu-đa cùng cả lính chiến vừa ngó thấy các người ấy, liền trốn ra khỏi thành trong ban đêm, theo con đường vườn vua, do cửa giữa hai bức vách, đi thẳng đến A-ra-ba.

5Nhưng đạo binh của người Canh-đê đuổi theo, và đuổi kịp Sê-đê-kia trong đồng Giê-ri-cô; thì bắt và đem về cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Tại đó, vua bị Nê-bu-cát-nết-sa đoán xét.

6Vua Ba-by-lôn giết các con trai Sê-đê-kia trước mặt vua ấy tại Ríp-la; vua Ba-by-lôn cũng giết các kẻ cả nước Giu-đa nữa.

7Đoạn, khiến móc mắt vua Sê-đê-kia, dùng xiềng mà xiềng lại, để điệu về Ba-by-lôn.

8Người Canh-đê dùng lửa đốt cung vua và nhà cửa của dân sự, phá tường thành Giê-ru-sa-lem.

9Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, bắt những người dân còn sót lại trong thành, và những kẻ hàng đầu, cùng dân sót lại trong đất, đem về làm phu tù bên nước Ba-by-lôn.

10Còn như những kẻ nghèo khó, không có sản nghiệp chi hết, thì Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, để chúng nó lại trong đất Giu-đa; cùng một lúc ấy, người cấp cho chúng nó những vườn nho và ruộng.

11Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, truyền lịnh cho Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, về việc Giê-rê-mi rằng:

12Hãy đem người đi, săn sóc người, và đừng làm hại; nhưng phải đãi người theo ý muốn riêng của người.

13Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, Nê-bu-sa-ban, làm đầu hoạn quan, Nẹt-gan-Sa-rết-sê, làm đầu bác sĩ, và hết thảy các quan tướng của vua Ba-by-lôn,

14sai tìm Giê-rê-mi trong hành lang lính canh, rồi trao người cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, đặng đưa người về trong nhà. Người bèn ở giữa dân sự.

15Khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng người như vầy:

16Ngươi khá đi và bảo Ê-bết-Mê-lết, người Ê-thi-ô-bi, rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, đến ngày đó ta sẽ làm ra trước mặt ngươi mọi lời mà ta đã phán nghịch cùng thành nầy, cho nó mang họa và chẳng được phước.

17Đức Giê-hô-va phán: Nhưng trong ngày đó, ta sẽ giải cứu ngươi, thì ngươi sẽ không bị nộp trong tay những người mình sợ.

18Vì ta sẽ cứu ngươi chắc thật, ngươi sẽ không ngã dưới lưỡi gươm; ngươi sẽ lấy được sự sống mình như của cướp, vì đã để lòng trông cậy trong ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traduction de comparaison

1Tháng mười năm thứ chín triều Xít-ki-gia-hu, vua Giu-đa, Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, cùng toàn thể đạo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem ; chúng vây hãm thành.

2Ngày mồng chín, tháng tư, năm thứ mười một triều Xít-ki-gia-hu, tường thành bị chọc thủng một lỗ.

3Tất cả các tướng lãnh của vua Ba-by-lon đến đóng quân ở cửa giữa ; đó là các tướng Néc-gan Xa E-xe, Xam-ga Nơ-vu, quan thái giám Xác Xơ-khim, quan chiêm tinh Néc-gan Xa E-xe và tất cả các tướng lãnh khác của vua Ba-by-lon.

4Khi thấy chúng, đang đêm, Xít-ki-gia-hu, vua Giu-đa, và tất cả các binh lính trốn khỏi thành theo con đường trong vườn của vua, qua cửa giữa hai bức tường, rồi đi về hướng A-ra-va.

5Đạo quân Can-đê rượt theo và đuổi kịp vua Xít-ki-gia-hu trong vùng thảo nguyên Giê-ri-khô. Chúng bắt được vua và đem lên Ríp-la, thuộc xứ Kha-mát gặp Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo tuyên án kết tội vua Xít-ki-gia-hu.

6Vua Ba-by-lon cho cắt cổ những người con của vua Xít-ki-gia-hu tại Ríp-la trước mắt vua cha ; tất cả hàng quý tộc Giu-đa, vua Ba-by-lon cũng đều cho cắt cổ.

7Rồi ông đâm mù mắt vua Xít-ki-gia-hu, lấy hai dây xích đồng xiềng vua lại, và cho điệu về Ba-by-lon.

8Còn đền vua và nhà dân chúng, quân Can-đê đã phóng hoả đốt ; chúng cũng triệt hạ các tường thành Giê-ru-sa-lem.

9Quan chỉ huy thị vệ Nơ-vu-dác-a-đan bắt những người dân còn sót lại trong thành, những người đã đầu hàng vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, những người thợ thủ công còn sót lại, đem đi lưu đày ở Ba-by-lon.

10Quan chỉ huy thị vệ Nơ-vu-dác-a-đan cho chừa lại một phần dân cùng đinh, là những người vô sản trong xứ Giu-đa, đồng thời ông chia cho họ vườn nho và ruộng đất.

11Còn về ông Giê-rê-mi-a, Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, truyền lệnh cho quan chỉ huy thị vệ Nơ-vu-dác-a-đan như sau :

12“Hãy bắt lấy ông ta và coi chừng, đừng làm gì hại ông ta ; trái lại ông ta yêu cầu gì, cứ làm cho ông ta như thế !”

13Vậy vua Na-bu-cô-đô-nô-xo giao nhiệm vụ này cho quan chỉ huy thị vệ Nơ-vu-dác-a-đan, quan thái giám Nơ-vu-sát-ban, quan chiêm tinh Néc-gan Xa E-xe, cùng tất cả các thuộc hạ của vua.

14Họ sai người đến đưa ông Giê-rê-mi-a ra khỏi sân thị vệ và giao ông cho Gơ-đan-gia-hu, con ông A-khi-cam, con ông Sa-phan, để ông Gơ-đan-gia-hu dẫn ông Giê-rê-mi-a về nhà mình và ông Giê-rê-mi-a đã ở lại đó với dân chúng.

15Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giê-rê-mi-a, lúc ấy đang bị giam trong sân vệ binh :

16“Ngươi hãy đi nói với E-vét Me-léc, người Cút rằng : ĐỨC CHÚA các đạo binh phán như sau : Này Ta sắp tuyên phán những lời của Ta về thành này để giáng hoạ, chứ không phải giáng phúc. Ngày đó, các lời ấy sẽ thành sự thực trước mắt ngươi.

17Nhưng, trong ngày đó, Ta sẽ giải thoát ngươi –sấm ngôn của ĐỨC CHÚA–, và ngươi sẽ không bị trao nộp vào tay những kẻ làm cho ngươi sợ.

18Quả thật, chắc chắn Ta sẽ cứu ngươi khỏi phải ngã gục vì gươm đao, ngươi sẽ được sống và bảo toàn được tính mạng, bởi vì ngươi đã tin cậy vào Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.”

Verset copié dans le presse-papiers