Tableau de données d'articles

Psalms

Chapitre 78

Catholic · KTCGKPV

Comparer les traductions

Les deux colonnes suivent le même livre, chapitre et verset.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traduction principale

1lắng tai đón nhận lời lẽ miệng tôi.

2công bố điều huyền bí thuở xa xưa.

3do cha ông kể lại cho mình,

4với những kỳ công Chúa đã làm.

5cho con cháu các cụ được tường,

6rồi mai ngày đến lượt kể cho con cháu mình.

7và tuân giữ lệnh Người truyền dạy :

8nòi tâm địa thất thường, dạ bất trung cùng Chúa.

9ngày giao chiến đành phải tháo lui ;

10và chẳng chịu sống theo luật Chúa ;

11những kỳ công Người đã cho chứng kiến.

12tại cánh đồng Xô-an bên Ai-cập.

13dồn nước lại như tường thành sừng sững ;

14và ban đêm lấy lửa hồng soi sáng.

15khiến nước tuôn tràn cho dân được uống,

16nước đổ dạt dào như những con sông.

17phản nghịch cùng Đấng Tối Cao tại miền hoang địa ;

18đòi được ăn cho vừa sở thích.

19liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn ?

20bánh và thịt nữa chăng ?

21nổi trận lôi đình với Ít-ra-en,

22chẳng cậy trông ơn Người cứu độ.

23lại truyền mở rộng cánh thiên môn ;

24và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.

25Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.

26dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.

27chim chóc ê hề như cát đại dương ;

28Người cho rớt vào ngay doanh trại, chung quanh lều dân ở.

29thèm thứ gì, Người đãi cho thứ đó.

30khi miếng ăn còn chưa kịp nuốt,

31Chúa giết liền bọn trai trẻ ấy.

32chẳng buồn tin việc lạ Chúa làm,

33tuổi đời họ, Người chấm dứt thình lình.

34mới trở lại và mau mắn kiếm Người,

35Thiên Chúa Tối Cao là Đấng cứu chuộc họ.

36Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người ;

37chẳng trung thành giữ giao ước của Người.

38nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.

39gió thoảng qua, không hẹn ngày về.

40trêu giận Người giữa chốn hoang liêu.

41làm cực lòng Đức Thánh của Ít-ra-en,

42quên ngày Chúa cứu khỏi ách quân thù.

43và bao dấu lạ trong cánh đồng Xô-an.

44khiến cho dân Ai-cập không thể nào uống nổi.

45Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang,

46cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng ;

47mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả,

48dịch tàn sát chiên dê, thời khí hại bò lừa.

49đó là cả một đạo hung thần.

50nhưng bắt phải chết vì dịch tễ.

51là tinh hoa của dòng giống họ Kham.

52đem họ vào sa mạc chẳng khác bầy chiên,

53nhưng quân thù họ bị biển khơi chôn vùi.

54là vùng núi non tay Người đã chiếm.

55để họ tới dựng lều cư ngụ.

56lệnh Người đã ban truyền, họ chẳng tuân chẳng giữ.

57luôn tráo trở thất thường như cánh cung sai chạy.

58lại tôn sùng ngẫu tượng khiến Chúa phải ghen tuông.

59quyết tình ruồng rẫy Ít-ra-en,

60và từ bỏ ngôi đền Si-lô là lều Chúa ngự giữa loài người.

61Người cũng để tay thù chiếm đoạt mang đi.

62Người phó mặc họ cho lưỡi gươm hung tàn.

63thiếu nữ chẳng còn được nghe điệu vu quy !

64goá phụ thương chồng mà chẳng được khóc than !

65như tướng hùng đã thấm men say,

66phải thảm thê nhục nhã muôn đời.

67chi tộc Ép-ra-im, Người không tuyển chọn,

68và núi Xi-on, nơi Người ưa thích.

69và cũng như trái đất Người đặt vững muôn đời.

70cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên,

71và Ít-ra-en sản nghiệp của Người.

72tay dẫn đưa khéo léo tài tình.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Traduction de comparaison

1Hỡi dân sự ta, hãy lắng tai nghe luật pháp ta; Hãy nghiêng tai qua nghe lời của miệng ta.

2Ta sẽ mở miệng ra nói thí dụ, Bày ra những câu đố của đời xưa,

3Mà chúng ta đã nghe biết, Và tổ phụ chúng ta đã thuật lại cho chúng ta.

4Chúng ta sẽ chẳng giấu các điều ấy cùng con cháu họ, Bèn sẽ thuật lại cho dòng dõi hậu lai những sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, Quyền năng Ngài, và công việc lạ lùng mà Ngài đã làm.

5Ngài đã lập chứng cớ nơi Gia-cốp, Định luật pháp trong Y-sơ-ra-ên, Truyền dặn tổ phụ chúng ta phải dạy nó lại cho con cháu mình;

6Hầu cho dòng dõi hậu lai, tức là con cái sẽ sanh, Được biết những điều đó, Rồi phiên chúng nó truyền lại cho con cháu mình;

7Hầu cho chúng nó để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, Không hề quên các công việc Ngài, Song gìn giữ các điều răn của Ngài,

8Để chúng nó chẳng như tổ phụ mình, Là một dòng dõi cố chấp phản nghịch, Chẳng dọn lòng cho chánh đáng, Có tâm thần không trung tín cùng Đức Chúa Trời.

9Con cháu Eùp-ra-im cầm binh khí và giương cung, Có xây lưng lại trong ngày chiến trận.

10Chúng nó không gìn giữ giao ước của Đức Chúa Trời, Cũng không chịu đi theo luật pháp Ngài,

11Quên những việc làm của Ngài, Và các công tác lạ lùng mà Ngài đã tỏ cho chúng nó thấy.

12Tại trong xứ Ê-díp-tô, nơi đồng bằng Xô-an, Ngài làm những phép lạ trước mặt tổ phụ chúng nó.

13Ngài rẽ biển ra, làm cho họ đi ngang qua, Khiến nước dựng lên như một đống.

14Ngài dẫn dắt họ, ban ngày bằng áng mây, Trọn ban đêm bằng ánh sáng lửa.

15Ngài bửa hòn đá ra trong đồng vắng, Ban cho họ uống nước nhiều như từ vực sâu ra.

16Ngài cũng khiến suối từ hòn đá phun ra, Và làm cho nước chảy ra như sông.

17Dầu vậy, họ cứ phạm tội cùng Ngài, Phản nghịch cùng Đấng Chí cao trong đồng vắng.

18Trong lòng họ thử Đức Chúa Trời, Mà cầu xin đồ ăn theo tình dục mình.

19Họ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời, Mà rằng: Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?

20Kìa, Ngài đã đập hòn đá, nước bèn phun ra, Dòng chảy tràn; Ngài há cũng có thể ban bánh sao? Ngài há sẽ sắm sửa thịt cho dân Ngài ư?

21Vì vậy Đức Giê-hô-va có nghe bèn nổi giận; Có lửa cháy nghịch cùng Gia-cốp, Sự giận nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên;

22Bởi vì chúng nó không tin Đức Chúa Trời, Cũng chẳng nhờ cậy sự cứu rỗi của Ngài.

23Dầu vậy, Ngài khiến các từng mây trên cao, Và mở các cửa trời,

24Cho mưa ma-na xuống trên họ đặng ăn, Và ban cho lúa mì từ trên trời.

25Người ta ăn bánh của kẻ mạnh dạn; Ngài gởi cho họ đồ ăn đầy đủ.

26Ngài khiến gió đông thổi trên trời, Nhờ quyền năng mình Ngài dẫn gió nam.

27Ngài khiến mưa thịt trên chúng nó như bụi tro, Và chim có cánh cũng nhiều như cát biển;

28Ngài làm các vật đó sa xuống giữa trại quân, Khắp xung quanh nơi ở chúng nó.

29Như vậy chúng nó ăn, được no nê chán lán, Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó ước ao.

30Chúng nó chưa xây khỏi điều mình ước ao, Vật thực hãy còn trong miệng chúng nó,

31Bèn có cơn giận của Đức Chúa Trời nổi lên cùng chúng nó, Giết những kẻ béo hơn hết, Đánh hạ những người trai trẻ của Y-sơ-ra-ên.

32Mặc dầu các sự ấy, chúng nó còn phạm tội, Không tin các công việc lạ lùng của Ngài.

33Vì cớ ấy Ngài làm cho các ngày chúng nó tan ra hư không, Dùng sự kinh khiếp làm tiêu các năm chúng nó.

34Khi Ngài đánh giết chúng nó, chúng nó bèn cầu hỏi Ngài, Trở lại tìm cầu Đức Chúa Trời cách sốt sắng.

35Chúng nó bèn nhớ lại rằng Đức Chúa Trời là hòn đá của mình, Đức Chúa Trời Chí cao là Đấng cứu chuộc mình.

36Nhưng chúng nó lấy miệng dua nịnh Ngài, Dùng lưỡi mình nói dối với Ngài.

37Vì lòng chúng nó chẳng khắn khít cùng Ngài, Chúng nó cũng không trung tín trong sự giao ước Ngài.

38Nhưng Ngài, vì lòng thương xót, tha tội ác cho, chẳng hủy diệt chúng nó: Thật, nhiều khi Ngài xây cơn giận Ngài khỏi, chẳng nổi giận đến cực k”.

39Ngài nhớ lại chúng nó chẳng qua là xác thịt, Một hơi thở qua, rồi không trở lại.

40Biết mấy lần chúng nó phản nghịch cùng Ngài nơi đồng vắng, Và làm phiền Ngài trong chỗ vắng vẻ!

41Chúng nó lại thử Đức Chúa Trời, Trêu chọc Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên.

42Chúng nó không nhớ lại tay của Ngài, Hoặc ngày Ngài giải cứu chúng nó khỏi kẻ hà hiếp;

43Thể nào Ngài đặt các dấu lạ mình tại Ê-díp-tô, Và những phép k” mình trong đồng Xô-an;

44Đổi ra huyết các sông Và các dòng nước chúng nó, đến đỗi không thế uống được.

45Ngài sai muỗi cắn nuốt họ, Và ếch làm hại chúng nó;

46Cũng phó hoa lợi chúng nó cho châu chấu, Nộp bông trái công lao họ cho cào cào.

47Ngài phá vườn nho chúng nó bằng mưa đá, Hủy cây sung họ bằng tuyết giá;

48Cũng phó trâu bò chúng nó cho mưa đá, Và nộp bầy chiên họ cho sấm sét.

49Ngài thả nghịch chúng nó cơn giận dữ Ngài, Sự thạnh nộ, sự nóng nả, và gian truân, Tức là một lũ sứ tai họa.

50Ngài mở lối cho cơn giận Ngài, Chẳng dong thứ linh hồn họ khỏi chết, Bèn phó mạng sống chúng nó cho dịch hạch;

51Cũng đánh giết mọi con đầu lòng trong Ê-díp-tô, Tức là cường-tráng sanh đầu ở trong các trại Cham.

52Đoạn Ngài đem dân sự Ngài ra như con chiên. Dẫn dắt họ trong đồng vắng như một bầy chiên.

53Ngài dẫn chúng nó bình an vô sự, chúng nó chẳng sợ chi: Còn biển lấp lại những kẻ thù nghịch họ.

54Ngài đưa họ đến bờ cõi thánh Ngài, Tức đến núi mà tay hữu Ngài đã được.

55Ngài cũng đuổi các dân khỏi trước mặt chúng nó, Bắt thăm và chia xứ làm sản nghiệp cho họ, Khiến các chi phái Y-sơ-ra-ên ở trong trại của các dân ấy.

56Dầu vậy, chúng nó thử và phản nghịch Đức Chúa Trời Chí cao, Không giữ các chứng cớ của Ngài;

57Nhưng trở lòng, ở bất trung như các tổ phụ mình: Chúng nó sịa như cây cung sai lệch.

58Nhân vì các nơi cao, chúng nó chọc giận Ngài, Giục Ngài phân bì tại vì những tượng chạm.

59Khi Đức Chúa Trời nghe điều ấy, bèn nổi giận, Gớm ghiếc Y-sơ-ra-ên quá đỗi;

60Đến nỗi bỏ đền tạm tại Si-lô, Tức là trại Ngài đã dựng giữa loài người;

61Phó sức lực Ngài bị dẫn tù, Và nộp vinh hiển Ngài vào tay cừu địch.

62Ngài cũng phó dân sự Ngài cho bị thanh gươm, Và nổi giận cùng cơ nghiệp mình.

63Lửa thiêu nuốt những gã trai trẻ họ, Còn các nữ đồng trinh không có ai hát nghinh thú.

64Những thầy tế lễ họ bị gươm sa ngã, Song các người góa bụa không than khóc.

65Bấy giờ Chúa tỉnh thức như người khỏi giấc ngủ, Khác nào kẻ mạnh dạn reo la vì cớ rượu.

66Ngài hãm đánh những kẻ cừu địch lui lại, Làm cho chúng nó bị sỉ nhục đời đời.

67Vả lại, Ngài từ chối trại Giô-sép, Cũng chẳng chọn chi phái Eùp-ra-im;

68Bèn chọn chi phái Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến.

69Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.

70Ngài cũng chọn Đa-vít là tôi tớ Ngài, Bắt người từ các chuồng chiên:

71Ngài đem người khỏi bên các chiên cho bú, Đặng người chăn giữ Gia-cốp, là dân sự Ngài, Và Y-sơ-ra-ên, là cơ nghiệp Ngài.

72Như vậy, người chăn giữ họ theo sự thanh liêm lòng người, Và lấy sự khôn khéo tay mình mà dẫn dắt họ.

Verset copié dans le presse-papiers