Tableau de données d'articles

Tobit

Chapitre 1

Catholic · DRA

Comparer les traductions

Les deux colonnes suivent le même livre, chapitre et verset.

DRADouay-Rheims 1899 (Catholic)Traduction principale

1Tobias of the tribe and city of Nephtali, (which is in the upper parts of Galilee above Naasson, beyond the way that leadeth to the west, having on the right hand the city of Sephet,)

2When he was made captive in the days of Salmanasar king of the Assyrians, even in his captivity, forsook not the way of truth,

3But every day gave all he could get to his brethren his fellow captives, that were of his kindred.

4And when he was younger than any of the tribe of Nephtali, yet did he no childish thing in his work.

5Moreover when all went to the golden calves which Jeroboam king of Israel had made, he alone fled the company of all,

6And went to Jerusalem to the temple of the Lord, and there adored the Lord God of Israel, offering faithfully all his firstfruits, and his tithes,

7So that in the third year he gave all his tithes to the proselytes, and strangers.

8These and such like things did he observe when but a boy according to the law of God.

9But when he was a man, he took to wife Anna of his own tribe, and had a son by her, whom he called after his own name,

10And from his infancy he taught him to fear God, and to abstain from all sin.

11And when by the captivity he with his wife and his son and all his tribe was come to the city of Ninive,

12(When all ate of the meats of the Gentiles) he kept his soul and never was defiled with their meats.

13And because he was mindful of the Lord with all his heart, God gave him favour in the sight of Salmanasar the king.

14And he gave him leave to go whithersoever he would, with liberty to do whatever he had a mind.

15He therefore went to all that were in captivity, and gave them wholesome admonitions.

16And when he was come to Rages a city of the Medes, and had ten talents of silver of that with which he had been honoured by the king:

17And when amongst a great multitude of his kindred, he saw Gabelus in want, who was one of his tribe, taking a note of his hand he gave him the aforesaid sum of money.

18But after a long time, Salmanasar the king being dead, when Sennacherib his son, who reigned in his place, had a hatred for the children of Israel:

19Tobias daily went among all his kindred, and comforted them, and distributed to every one as he was able, out of his goods:

20He fed the hungry, and gave clothes to the naked, and was careful to bury the dead, and they that were slain.

21And when king Sennacherib was come back, fleeing from Judea by reason of the slaughter that God had made about him for his blasphemy, and being angry slew many of the children of Israel, Tobias buried their bodies.

22But when it was told the king, he commanded him to be slain, and took away all his substance.

23But Tobias fleeing naked away with his son and with his wife, lay concealed, for many loved him.

24But after forty-five days, the king was killed by his own sons.

25And Tobias returned to his house, and all his substance was restored to him.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traduction de comparaison

1Đây là sách truyện ông Tô-bít, con ông Tô-bi-ên, cháu ông Kha-nan-ên, chắt ông A-đu-ên, cháu ba đời ông Ga-ba-ên, cháu bốn đời ông Ra-pha-en, cháu năm đời ông Ra-gu-ên. Ông thuộc dòng dõi ông A-xi-ên, chi tộc Náp-ta-li.

2Vào thời San-ma-ne-xe làm vua Át-sua, ông bị đày khỏi Tít-be, một thành ở miền nam Ky-đi-ô, thuộc Náp-ta-li, trên miền Ga-li-lê Thượng, bên trên Kha-xo nằm lui vào bên trong, hướng mặt trời lặn, ở phía bắc Phô-go.

3Tôi là Tô-bít, tôi đã từng ăn ở theo sự thật và lẽ ngay suốt mọi ngày đời tôi. Tôi cũng đã từng rộng tay bố thí cho anh em và đồng bào tôi, những người cùng đi đày với tôi qua Ni-ni-vê, ở xứ Át-sua.

4Khi tôi còn ở trong xứ tôi là đất Ít-ra-en, và khi tôi còn trẻ, toàn bộ chi tộc của cha tôi là Náp-ta-li đã ly khai với nhà Đa-vít, tổ tiên tôi, và thành đô Giê-ru-sa-lem. Trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en, thành này đã được chọn làm nơi cho mọi chi tộc Ít-ra-en đến tế lễ ; và tại đây, Đền Thờ Thiên Chúa ngự đã được thánh hiến và xây cất cho mọi thế hệ mai sau.

5Còn tất cả anh em tôi, cũng như nhà Náp-ta-li cha tôi, thì trên mọi núi đồi miền Ga-li-lê, lại cúng tế con bê mà Gia-róp-am, vua Ít-ra-en, đã làm ra tại Đan.

6Chỉ có mình tôi đã nhiều lần trẩy lên Giê-ru-sa-lem vào các dịp lễ, theo những điều đã chép trong chiếu chỉ ngàn đời được ban truyền trong toàn cõi Ít-ra-en. Các hoa quả đầu mùa và những con vật đầu lòng, cũng như một phần mười đàn vật và lông những con cừu được xén lần đầu tiên, tôi đều mau mắn đưa tới Giê-ru-sa-lem.

7Tôi dâng các thứ đó cho các thầy tư tế, con cái ông A-ha-ron, để lo việc tế lễ ; còn một phần mười lúa miến, rượu nho, ô-liu, thạch lựu, vả cùng những trái cây còn lại, thì dâng cho con cái ông Lê-vi đang phục vụ tại Giê-ru-sa-lem. Phần mười thứ hai, tôi nộp bằng tiền mặt trong sáu năm liền để làm tiền tiêu dùng hằng năm tại Giê-ru-sa-lem.

8Tiền đó, tôi tặng cô nhi, quả phụ và những người ngoại kiều sống giữa con cái Ít-ra-en ; ba năm một lần, tôi đem đến tặng họ. Chúng tôi dùng số tiền đó mà ăn tiêu theo chiếu chỉ được ban truyền trong luật Mô-sê liên quan đến những việc ấy, và theo các huấn lệnh của bà Đơ-vô-ra, thân mẫu cha ông chúng tôi là Kha-nan-ên, vì cha tôi chết để lại tôi mồ côi.

9Đến tuổi thành nhân, tôi lấy một người thuộc dòng dõi cha ông chúng tôi làm vợ ; nhờ nàng, tôi được một đứa con trai và đặt tên cho nó là Tô-bi-a.

10Thời lưu đày qua Át-sua, tôi cũng bị đi đày và đã tới Ni-ni-vê. Mọi anh em và những người cùng một dòng máu với tôi đều đã dùng thức ăn của dân ngoại.

11Còn tôi, tôi vẫn kiêng không dùng thức ăn của dân ngoại.

12Và bởi vì tôi hết lòng tưởng nhớ Thiên Chúa tôi,

13nên Người là Đấng Tối Cao đã làm cho tôi được vừa lòng đẹp mắt vua San-ma-ne-xe. Tôi đã trở thành người mua sắm cho vua tất cả những gì vua cần dùng.

14Vì vậy, tôi thường hay qua xứ Mê-đi mua sắm cho vua, cho đến ngày vua băng hà ; và tôi đã gửi ông Ga-ba-ên, là anh em ông Gáp-ri, tại xứ Mê-đi, những túi bạc tính tất cả là ba trăm ký.

15Khi vua San-ma-ne-xe băng hà, thái tử Xan-khê-ríp lên ngôi kế vị, thì các đường Mê-đi bị cắt đứt, và tôi không thể qua Mê-đi được nữa.

16Dưới thời vua San-ma-ne-xe, tôi đã rộng tay bố thí cho các anh em cùng một dòng máu với tôi.

17Cơm bánh của tôi, tôi cho người đói khát ; quần áo của tôi, tôi cho kẻ trần truồng ; nếu thấy ai trong số đồng bào tôi chết và bị quăng thây ra phía sau tường thành Ni-ni-vê, thì tôi chôn cất người đó.

18Nếu có ai bị vua Xan-khê-ríp giết chết trên đường vua trốn khỏi Giu-đê trở về, trong những ngày Vua trên trời trừng phạt vua về những lời phạm thượng đã thốt ra, thì tôi cũng chôn cất. Quả vậy, trong cơn phẫn nộ, vua đã giết chết nhiều người trong số con cái Ít-ra-en, còn tôi cứ đi lấy trộm xác họ mà chôn cất. Vua Xan-khê-ríp đi tìm những xác đó mà không thấy.

19Một người dân thành Ni-ni-vê tố giác với vua rằng chính tôi là người chôn cất họ, nên tôi lẩn tránh. Khi được biết là vua đã rõ chuyện tôi và đang cho người lùng bắt để giết tôi, tôi sợ hãi và trốn thoát.

20Thế là bao nhiêu của cải tôi có đều bị tịch thu, không còn lại một chút gì mà không bị sung vào kho vua, trừ An-na vợ tôi và Tô-bi-a con trai tôi.

21Không đầy bốn mươi ngày sau, hai người con trai của vua giết chết vua, rồi bỏ trốn lên núi A-ra-rát. Hoàng tử Ê-xa-khát-đôn lên ngôi kế vị vua cha, và đặt A-khi-ca, con trai của A-na-ên, người anh em tôi, lên trông coi việc tài chính cả nước cùng nắm quyền điều khiển toàn bộ công việc quản trị.

22Bấy giờ, A-khi-ca bênh vực tôi và tôi đã trở xuống Ni-ni-vê. Quả vậy, dưới triều Xan-khê-ríp, vua Át-sua, A-khi-ca đã từng làm quan đại chước tửu, chưởng ấn, người trông coi việc quản trị và tài chính. Vua Ê-xa-khát-đôn lại đặt A-khi-ca giữ các chức vụ một lần nữa : A-khi-ca là cháu trai và cùng một dòng họ với tôi.

Cette traduction n'inclut pas ce passage.

Cette traduction n'inclut pas ce passage.

Cette traduction n'inclut pas ce passage.

Verset copié dans le presse-papiers