Tableau de données d'articles

Psalms

Chapitre 78

Protestant · BD2011

Comparer les traductions

Les deux colonnes suivent le même livre, chapitre et verset.

BD2011Vietnamese 2011 Translation (Protestant)Traduction principale

Le texte de comparaison n'est pas disponible pour ce passage.

Cette traduction n'inclut pas ce passage.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traduction de comparaison

1lắng tai đón nhận lời lẽ miệng tôi.

2công bố điều huyền bí thuở xa xưa.

3do cha ông kể lại cho mình,

4với những kỳ công Chúa đã làm.

5cho con cháu các cụ được tường,

6rồi mai ngày đến lượt kể cho con cháu mình.

7và tuân giữ lệnh Người truyền dạy :

8nòi tâm địa thất thường, dạ bất trung cùng Chúa.

9ngày giao chiến đành phải tháo lui ;

10và chẳng chịu sống theo luật Chúa ;

11những kỳ công Người đã cho chứng kiến.

12tại cánh đồng Xô-an bên Ai-cập.

13dồn nước lại như tường thành sừng sững ;

14và ban đêm lấy lửa hồng soi sáng.

15khiến nước tuôn tràn cho dân được uống,

16nước đổ dạt dào như những con sông.

17phản nghịch cùng Đấng Tối Cao tại miền hoang địa ;

18đòi được ăn cho vừa sở thích.

19liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn ?

20bánh và thịt nữa chăng ?

21nổi trận lôi đình với Ít-ra-en,

22chẳng cậy trông ơn Người cứu độ.

23lại truyền mở rộng cánh thiên môn ;

24và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.

25Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.

26dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.

27chim chóc ê hề như cát đại dương ;

28Người cho rớt vào ngay doanh trại, chung quanh lều dân ở.

29thèm thứ gì, Người đãi cho thứ đó.

30khi miếng ăn còn chưa kịp nuốt,

31Chúa giết liền bọn trai trẻ ấy.

32chẳng buồn tin việc lạ Chúa làm,

33tuổi đời họ, Người chấm dứt thình lình.

34mới trở lại và mau mắn kiếm Người,

35Thiên Chúa Tối Cao là Đấng cứu chuộc họ.

36Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người ;

37chẳng trung thành giữ giao ước của Người.

38nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.

39gió thoảng qua, không hẹn ngày về.

40trêu giận Người giữa chốn hoang liêu.

41làm cực lòng Đức Thánh của Ít-ra-en,

42quên ngày Chúa cứu khỏi ách quân thù.

43và bao dấu lạ trong cánh đồng Xô-an.

44khiến cho dân Ai-cập không thể nào uống nổi.

45Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang,

46cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng ;

47mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả,

48dịch tàn sát chiên dê, thời khí hại bò lừa.

49đó là cả một đạo hung thần.

50nhưng bắt phải chết vì dịch tễ.

51là tinh hoa của dòng giống họ Kham.

52đem họ vào sa mạc chẳng khác bầy chiên,

53nhưng quân thù họ bị biển khơi chôn vùi.

54là vùng núi non tay Người đã chiếm.

55để họ tới dựng lều cư ngụ.

56lệnh Người đã ban truyền, họ chẳng tuân chẳng giữ.

57luôn tráo trở thất thường như cánh cung sai chạy.

58lại tôn sùng ngẫu tượng khiến Chúa phải ghen tuông.

59quyết tình ruồng rẫy Ít-ra-en,

60và từ bỏ ngôi đền Si-lô là lều Chúa ngự giữa loài người.

61Người cũng để tay thù chiếm đoạt mang đi.

62Người phó mặc họ cho lưỡi gươm hung tàn.

63thiếu nữ chẳng còn được nghe điệu vu quy !

64goá phụ thương chồng mà chẳng được khóc than !

65như tướng hùng đã thấm men say,

66phải thảm thê nhục nhã muôn đời.

67chi tộc Ép-ra-im, Người không tuyển chọn,

68và núi Xi-on, nơi Người ưa thích.

69và cũng như trái đất Người đặt vững muôn đời.

70cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên,

71và Ít-ra-en sản nghiệp của Người.

72tay dẫn đưa khéo léo tài tình.

Verset copié dans le presse-papiers