Tabla de datos del artículo

Nehemiah

Capítulo 7

Protestant · VIE1925

Comparar traducciones

Ambas columnas siguen el mismo libro, capítulo y versículo.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Traducción principal

1Khi vách thành đã xây xong, và tôi đã tra các cánh cửa, lập những người giữ cửa, kẻ ca hát, và người Lê-vi trong chức việc của họ,

2thì tôi giao phó việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho Ha-na-ni, em tôi, và cho Ha-na-nia, quan tể cung; vì là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.

3Tôi dặn chúng rằng: Chớ mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời nắng nóng; người ta phải đóng cánh cửa, và gài then lại trong lúc kẻ giữ cửa còn ở tại đó; lại phải đặt người trong dân Giê-ru-sa-lem theo phiên mà canh giữ, mỗi người đứng canh nơi đối ngang nhà mình.

4Vả, thành thì rộng rãi lớn lao, còn dân sự ở trong nó lại ít, và nhà mới thì chưa có cất.

5Đức Chúa Trời tôi có cảm động lòng tôi chiêu tập những người tước vị, các quan trưởng, và dân sự, đặng đem chúng vào sổ từng gia phổ. Tôi có tìm đặng một cuốn bộ gia phổ của những người đã trở lên lần đầu, và trong đó tôi thấy có ghi rằng:

6Này là các người tỉnh Giu-đa từ nơi làm phu tù được trở lên, tức những kẻ thuộc trong bọn bị Nê-bu-ca-nết-sa bắt dẫn tù; chúng trở lại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, ai nấy đều về bổn thành mình;

7chúng trở về với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Bê-hum, và Ba-a-na. Nầy là số tu bộ những người nam của dân Y-sơ-ra-ên;

8Về con cháu Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người;

9về con cháu Sê-pha-tia, ba trăm bảy mươi hai người.

10Về con cháu A-ra, sáu trăm năm mươi hai người.

11Về co cháu Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai ngàn tám trăm mười tám người.

12Về co cháu Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

13Về con cháu Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người.

14Về con cháu Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.

15Về con cháu Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người.

16Về con cháu Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người.

17Về con cháu A-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người.

18Về con cháu A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người.

19Về con cháu Biết-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người.

20Về con cháu A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người.

21Con cháu A-te, về dòng dõi Ê-xê-chia, có chín mươi tám người.

22Về con cháu Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người.

23Về con cháu Bết-sai, ba trăm hai mươi bốn người.

24Về con cháu Ha-ríp, một trăm mười hai người.

25Về con cháu Ga-ba-ôn, chín mươi lăm người.

26Về những người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người.

27Về những người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám người.

28Về những người Bết-A-ma-vết, bốn mươi hai người.

29Về những người Ki-ri-át-Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.

30Về những người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.

31Về những người Mích-ma, một trăm hai mươi hai người,

32Về những người Bê-tên và A-hi, một trăm hai mươi ba người.

33Về những người Nê-bô khác, năm mươi hai người.

34Về con cháu Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

35Về con cháu Ha-rim, ba trăm hai mươi người.

36Về con cháu Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.

37Về con cháu của Lô-đơ, của Ha-đít, và của Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người.

38Về con cháu Sê-na, ba ngàn chín trăm ba mươi người.

39Những thầy tế lễ: Về con cháu Giê-đa-gia, nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.

40Về con cháu Y-mê, một ngàn năm mươi hai người.

41Về con cháu Pha-ru-sơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.

42Về con cháu Ha-rim, một ngàn mười bảy người.

43Người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và của Cát-mi-ên, về dòng dõi Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.

44Người ca hát: Về con cháu A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.

45Kẻ giữ cửa: Về con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-la, và con cháu Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.

46Người Nê-thi-nim: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,

47con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn,

48con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,

49con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha;

50con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,

51con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a,

52con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sê-sim,

53con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,

54con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,

55con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,

56con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.

57Dòng dõi các đầy tớ của Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa,

58con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,

59con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kế-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-mon.

60Tổng cộng các người Nê-thi-nim và con cháu các đầy tớ của Sa-lô-môn, là ba trăm chín mươi hai người.

61Nầy là những người ở từ Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn, và từ Y-mê mà đi lên; nhưng chúng nó không thể chỉ ra nhà của tổ phụ mình và gốc gác của họ, hoặc thuộc về Y-sơ-ra-ên hay chăng:

62con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm bốn mươi hai người.

63Về những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai, là người lấy vợ trong vòng con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, và được gọi bằng tên của họ.

64Các người ấy tìm kiếm gia phổ mình, nhưng không thấy, bèn bị trừ ra chức tế lễ, kể cho là ô uế.

65Quan tổng trấn cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng có một thầy tế lễ dấy lên dùng U-rim và Thu-nim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.

66Cả hội chúng hiệp lại được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người,

67không kể những tôi trai tớ gái của dân, số được bảy ngàn ba trăm ba mơi bảy người; cũng có hai trăm bốn mươi lăm kẻ ca hát, nam và nữ.

68Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,

69bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

70Có mấy trưởng tộc đem của cung tiến đặng giúp làm công việc. Quan tổng trấn dâng cho kho một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi cái chậu, và năm trăm ba mươi cái áo thầy tế lễ.

71Có mấy trưởng tộc dâng vào kho tạo tác hai vạn đa-riếc vàng, và hai ngàn hai trăm min bạc.

72Còn vật dân sự khác dâng, được hai vạn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy cái áo thầy tế lễ.

73Aáy vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ giữ cửa, kẻ ca hát, mấy người trong dân, và người Nê-thi-nim, cùng cả Y-sơ-ra-ên, đều ở trong các thành của mình. Khi tháng bảy đến, thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traducción comparativa

1Khi tường thành đã xây xong và tôi đã dựng cánh cửa rồi, thì những người canh cửa cũng như các ca viên và các thầy Lê-vi công khai nhận nhiệm vụ.

2Tôi ra lệnh đặt ông Kha-na-ni là anh em của tôi, và ông Kha-nan-gia, trưởng đồn, lên cai trị Giê-ru-sa-lem, vì ông này là người đáng tin cậy và kính sợ Thiên Chúa hơn nhiều người khác.

3Tôi nói với họ : “Sẽ không được mở cửa thành Giê-ru-sa-lem trước khi trời nắng ; phải đóng cửa cài then khi những người canh còn đứng đó. Phải cắt phiên gác cho cư dân Giê-ru-sa-lem, người thì ở trạm canh, người thì ở trước nhà mình.

4Thành thì bốn bề rộng lớn, nhưng cư dân lại ít và nhà cửa chưa xây dựng lại.

5Thiên Chúa của tôi đã thúc đẩy tôi tập họp các trưởng tộc, quan chức và dân chúng lại để kiểm tra dân số theo gia phả. Tôi đã tìm thấy cuốn gia phả ghi tên những người đầu tiên hồi hương ; tôi thấy ghi ở đó như sau :

6Đây là những người trong miền đã từ chốn lưu đày hồi hương. Họ là những người bị vua Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-nô-xo đày ải. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy.

7Đây là số những người thuộc dân Ít-ra-en :

8Con cháu ông Pác-ốt : hai ngàn một trăm bảy mươi hai người ;

9con cháu ông Sơ-phát-gia : ba trăm bảy mươi hai người ;

10con cháu ông A-rác : sáu trăm năm mươi hai người ;

11con cháu ông Pa-khát Mô-áp, tức là con cháu ông Giê-su-a và ông Giô-áp : hai ngàn tám trăm mười tám người ;

12con cháu ông Ê-lam : một ngàn hai trăm năm mươi bốn người ;

13con cháu ông Dát-tu : tám trăm bốn mươi lăm người ;

14con cháu ông Dắc-cai : bảy trăm sáu mươi người ;

15con cháu ông Bin-nui : sáu trăm bốn mươi tám người ;

16con cháu ông Bê-vai : sáu trăm hai mươi tám người ;

17con cháu ông Át-gát : hai ngàn ba trăm hai mươi hai người ;

18con cháu ông A-đô-ni-cam : sáu trăm sáu mươi bảy người ;

19con cháu ông Bích-vai : hai ngàn sáu mươi bảy người ;

20con cháu ông A-đin : sáu trăm năm mươi lăm người ;

21con cháu ông A-te, tức là con cháu ông Khít-ki-gia : chín mươi tám người ;

22con cháu ông Kha-sum : ba trăm hai mươi tám người ;

23con cháu ông Bê-xai : ba trăm hai mươi bốn người ;

24con cháu ông Kha-ríp : một trăm mười hai người ;

25con cháu ông Ghíp-ôn : chín mươi lăm người ;

26người Bê-lem và người Nơ-tô-pha : một trăm tám mươi tám người ;

27người A-na-thốt : một trăm hai mươi tám người ;

28người Bết Át-ma-vét : bốn mươi hai người ;

29người Kia-giát Giơ-a-rim, người Cơ-phi-ra và người Bơ-ê-rốt : bảy trăm bốn mươi ba người ;

30người Ra-ma và người Ghe-va : sáu trăm hai mươi mốt người ;

31người Mích-mát : một trăm hai mươi hai người ;

32người Bết Ên và người Ai : một trăm hai mươi ba người ;

33người Nơ-vô khác : năm mươi hai người ;

34con cháu ông Ê-lam khác : một ngàn hai trăm năm mươi bốn người ;

35con cháu ông Kha-rim : ba trăm hai mươi người ;

36con cháu ông Giê-ri-khô : ba trăm bốn mươi lăm người ;

37con cháu ông Lốt, ông Kha-đích và ông Ô-nô : bảy trăm hai mươi mốt người ;

38con cháu ông Xơ-na-a : ba ngàn chín trăm ba mươi người.

39Các tư tế : con cháu ông Giơ-đa-gia thuộc nhà ông Giê-su-a : chín trăm bảy mươi ba người ;

40con cháu ông Im-me : một ngàn năm mươi hai người ;

41con cháu ông Pát-khua : một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người ;

42con cháu ông Kha-rim : một ngàn mười bảy người.

43Các thầy Lê-vi : con cháu ông Giê-su-a, tức là ông Cát-mi-ên, con cháu ông Hốt-va : bảy mươi bốn người.

44Các ca viên : con cháu ông A-xáp : một trăm bốn mươi tám người.

45Các người giữ cửa : con cháu ông Sa-lum, con cháu ông A-te, con cháu ông Tan-môn, con cháu ông Ắc-cúp, con cháu ông Kha-ti-ta, con cháu ông Sô-vai : một trăm ba mươi tám người.

46Những người phục vụ Đền Thờ : con cháu ông Xi-kha, con cháu ông Kha-xu-pha, con cháu ông Táp-ba-ốt,

47con cháu ông Kê-rốt, con cháu ông Xi-a, con cháu ông Pa-đôn,

48con cháu ông Lơ-va-na, con cháu ông Kha-ga-va, con cháu ông San-mai,

49con cháu ông Kha-nan, con cháu ông Ghít-đên, con cháu ông Ga-kha,

50con cháu ông Rơ-a-gia, con cháu ông Rơ-xin, con cháu ông Nơ-cô-đa,

51con cháu ông Gát-dam, con cháu ông Út-da, con cháu ông Pa-xê-ác,

52con cháu ông Bê-xai, con cháu người Mơ-u-nim, con cháu ông Nơ-phít-xim,

53con cháu ông Bác-búc, con cháu ông Kha-cúp-pha, con cháu ông Khác-khua,

54con cháu ông Bát-lít, con cháu ông Mơ-khi-đa, con cháu ông Khác-sa,

55con cháu ông Bát-cốt, con cháu ông Xít-ra, con cháu ông Te-mác,

56con cháu ông Nơ-xi-ác, con cháu ông Kha-ti-pha.

57Con cháu những người nô lệ của vua Sa-lô-môn : con cháu ông Xô-tai, con cháu ông Xô-phe-rét, con cháu ông Pơ-ri-đa,

58con cháu ông Gia-la, con cháu ông Đác-côn, con cháu ông Ghít-đên,

59con cháu ông Sơ-phát-gia, con cháu ông Khát-tin, con cháu ông Pô-khe-rét Ha Xơ-va-gim, con cháu ông A-môn.

60Tổng số những người phục vụ Đền Thờ và con cháu những người nô lệ của vua Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

61Và đây là những người trở về từ Ten Me-lác, Ten Khác-sa, Cơ-rúp, Át-đôn và Im-me. Họ không thể dựa vào gia tộc và dòng giống của họ để cho biết có thuộc về Ít-ra-en hay không :

62con cháu ông Đơ-la-gia, con cháu ông Tô-vi-gia, con cháu ông Nơ-cô-đa : sáu trăm bốn mươi hai người.

63Và trong hàng tư tế, có con cháu ông Khô-va-gia, con cháu ông Hắc-cốt, con cháu ông Bác-di-lai là người đã lấy một trong các con gái ông Bác-di-lai, người Ga-la-át, nên đã mang tên ông ấy.

64Những người này đã tìm kiếm tên của họ trong cuốn gia phả, nhưng không thấy, nên đã bị loại ra khỏi hàng tư tế vì bị coi là ô uế.

65Quan tổng đốc cấm họ không được ăn của thánh cho đến khi có một tư tế đứng lên xem thẻ xăm U-rim và Tum-mim.

66Toàn thể cộng đồng là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người,

67không kể tôi trai tớ gái của họ lên tới bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người. Họ cũng có hai trăm bốn mươi lăm nam nữ ca viên.

68Ngoài ra, họ còn có bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

69Một số gia trưởng đóng góp vào công cuộc này. Vị tổng đốc dâng vào quỹ một ngàn quan tiền, năm mươi bình rảy, năm trăm ba mươi bộ phẩm phục tư tế.

70Một số gia trưởng khác cũng đóng góp hai mươi ngàn quan tiền và một ngàn một trăm ký bạc vào quỹ xây dựng.

71Còn những người khác trong dân thì đóng góp hai mươi ngàn quan tiền, một ngàn ký bạc và sáu mươi bảy bộ phẩm phục tư tế.

72Đến tháng thứ bảy, con cái Ít-ra-en đã ổn định xong nơi ăn chốn ở trong các thành.

Esta traducción no incluye este pasaje.

Versículo copiado al portapapeles