Tabla de datos del artículo

Ecclesiastes

Capítulo 4

Protestant · VIE1925

Comparar traducciones

Ambas columnas siguen el mismo libro, capítulo y versículo.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Traducción principal

1Ta xây lại, xem xét mọi sự hà hiếp làm ra ở dưới mặt trời; kìa, nước mắt của kẻ bị hà hiếp, song không ai an ủi họ! Kẻ hà hiếp có quyền phép, song không ai an ủi cho kẻ bị hà hiếp!

2Vậy, ta khen những kẻ chết đã lâu rồi là sướng hơn kẻ còn sống;

3còn kẻ chưa được sanh ra, chưa thấy những gian ác làm ra dưới mặt trời, ta cho là có phước hơn hai đằng kia.

4Ta cũng thấy mọi công lao và mọi nghề khéo là điều gây cho người nầy kẻ khác ganh ghét nhau. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.

5Kẻ ngu muội khoanh tay, ăn lấy thịt mình.

6Thà đầy một lòng bàn tay mà bình an, hơn là đầy cả hai mà bị lao khổ, theo luồng gió thổi.

7Ta bèn xây lại xem thấy sự hư không ở dưới mặt trời:

8Nầy một người cô độc, chẳng có ai hoặc con trai hay là anh em; dầu vậy, lao khổ nó không thôi, mắt nó không hề chán của cải; nó không hề nghĩ rằng: Vậy ta lao khổ, ta bắt linh hồn nhịn các phước là vì ai? Điều đó cũng là hư không, thật là công việc cực nhọc.

9Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình.

10Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!

11Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được?

12Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây đánh ba tao lấy làm khó đứt.

13Một kẻ trẻ tuổi nghèo mà khôn hơn một ông vua già cả mà dại, chẳng còn biết nghe lời khuyên can.

14Vì kẻ trẻ ra khỏi ngục khám đặng làm vua, dầu sanh ra nghèo trong nước mình.

15Ta thấy mọi người sống đi đi lại lại dưới mặt trời, đều theo kẻ trẻ ấy, là người kế vị cho vua kia.

16Dân phục dưới quyền người thật đông vô số; dầu vậy, những kẻ đến sau sẽ chẳng vui thích về người. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.

Esta traducción no incluye este pasaje.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Traducción comparativa

1Họ không được một lời an ủi khi những người áp bức họ ra tay hành hạ.

2Đối với tôi những người đã chết, những người xưa đã chết có phúc hơn những người còn sống, những người còn đang sống.

3Nhưng còn có phúc hơn cả hai hạng người ấy, đó là kẻ hiện chưa chào đời, kẻ không nhìn thấy việc xấu xa dưới ánh mặt trời.

4Tôi nhận thấy rằng trong công việc, con người chấp nhận mọi gian khổ và vận dụng hết tài năng chỉ vì muốn ganh đua với nhau. Nhưng việc đó cũng chỉ là phù vân, là công dã tràng xe cát !

5Kẻ ngu si thì tay quai miệng trễ.

6hơn vất vả làm cả hai tay công việc của dã tràng xe cát.

7Tôi lại thấy một sự phù vân khác nữa dưới ánh mặt trời :

8Điều ấy cũng chỉ là phù vân, chỉ là công việc nhọc nhằn vô bổ.

9Hai người thì hơn một, vì hai người làm việc cực khổ sẽ thu nhập khá hơn.

10Người này ngã đã có người kia nâng dậy. Nhưng khi chỉ có một mình mà bị ngã thì thật là khốn, vì chẳng có ai nâng dậy cả !”

11Cũng vậy, hai người nằm chung thì ấm ; một mình làm sao mà ấm được ?”

12Một mình dễ bị tấn công, có hai người, ắt sẽ đương đầu nổi ; dây chập ba đâu dễ gì đứt ?

13vì không còn biết đón nhận lời khuyên ;

14hoặc đã sinh ra bần cùng trong vương quốc.

15Tôi đã thấy hết thảy những ai bước đi dưới ánh mặt trời đều theo nhân vật thứ hai là chàng trai ấy, người sẽ đứng lên thay thế vua kia.

16Tuy vậy, các thế hệ tiếp theo sẽ chẳng thấy phấn khởi gì vì người đó. Điều ấy cũng chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.

17Hãy cẩn thận khi bạn đưa chân tiến về nhà Thiên Chúa. Đến mà nghe hơn là dâng hy lễ theo kiểu của đứa ngu chỉ biết làm điều xấu.

Versículo copiado al portapapeles