Artikeldatentabelle

Job

Kapitel 39

Protestant · VIE1925

Übersetzungen vergleichen

Beide Spalten folgen demselben Buch, Kapitel und Vers.

VIE1925Vietnamese Bible 1925 (Protestant)Hauptübersetzung

1(039-4) Ngươi có biết thì nào dê rừng đẻ chăng? Có xem xét mùa nào nai cái đẻ chăng?

2(039-5) Ngươi có tính số tháng nó có thai, Và biết kỳ nó đẻ chăng?

3(039-6) Nó ngồi chồm hỗm, đẻ con nhỏ ra, Và được giải khỏi sự đau đớn của nó.

4(039-7) Các con nhỏ nó trở nên mạnh mẽ, lớn lên trong đồng nội; Đoạn lìa mẹ mình, chẳng còn trở lại nữa.

5(039-8) Ai để cho con lừa rừng chạy thong dong? Ai có mở trói cho con lừa lẹ làng kia?

6(039-9) Ta đã ban cho nó đồng vắng làm nhà, Và ruộng mặn làm nơi ở.

7(039-10) Nó khinh chê tiếng ồn ào của thị thành, Không nghe tiếng của kẻ coi dắt.

8(039-11) Khắp các núi là đồng cỏ của nó, Nó tìm kiếm mọi vật gì xanh tươi.

9(039-12) Chớ thì con bò tót muốn làm việc cho ngươi chăng? Nó chịu ở gần bên máng cỏ ngươi chớ?

10(039-13) Ngươi há có thể lấy dây cột bò tót nơi giòng cày sao? Nó sẽ chịu theo sau ngươi mà bừa trũng chăng?

11(039-14) Ngươi há sẽ nhờ cậy nó, vì nó sức nhiều sao? Ngươi sẽ giao công lao mình cho nó chăng?

12(039-15) Chớ thì ngươi cậy nó đem ngũ cốc về, Và nhờ nó gom lúa mì lại trong sân ngươi ư?

13(039-16) Chim lạc đà đập cánh vui mừng; Nhưng cánh và lông ấy, há có biết thương yêu sao?

14(039-17) Vì nó để trứng mình dưới đất, Vùi nóng trứng ấy nơi bụi cát,

15(039-18) Quên rằng có lẽ chân người bước nát nó, Hoặc con thú đồng giày đạp nó đi chăng.

16(039-19) Nó ở khắc khổ với con nó, dường như không thuộc về nó, Sự lao khổ nó luống công, nhưng nó không lo căm đến.

17(039-20) Vì Đức Chúa Trời cất sự khôn ngoan khỏi nó, Không chia phân thông sáng cho nó.

18(039-21) Khi nó đập cánh bay lên, Bèn nhạo báng ngựa và người cỡi ngựa.

19(039-22) Có phải ngươi ban sức lực cho ngựa, Và phủ cổ nó lông gáy rung rung chăng?

20(039-23) Há có phải ngươi khiến nó nhảy búng như cào cào chăng? Tiếng kêu hí có oai của nó, thật đáng sợ.

21(039-24) Nó đào đất trong trũng, vui mừng về sức lực mình; Nó xông tới đón quân cầm binh khí.

22(039-25) Nó khinh chê sự sợ, chẳng ghê điều chi; Trước ngọn gươm nó không xây trở.

23(039-26) Trên nó vang tiếng gùi tên, Giáo và lao sáng giới.

24(039-27) Nó lướt dậm, vừa nhảy vừa hét, Khi kèn thổi nó chẳng cầm mình lại được.

25(039-28) Vừa khi nghe kèn thổi, nó bèn la: Hi! hi! Từ xa nó đánh hơi mùi giặc, Nghe tiếng ầm ầm của các quan tướng và tiếng reo hô của chiến sĩ.

26(039-29) Có phải nhờ sự khôn ngươi mà con diều vùng bay đi, Và sè cánh nó về hướng nam?

27(039-30) Có phải theo lịnh ngươi mà chim ưng cất lên, Và đóng ổ nó tại nơi cao?

28(039-31) Nó ở trong bàn thạch, đậu trên chót vót hòn đá, Tại trên đỉnh núi không ai leo lên được.

29(039-32) Từ đó, nó rình mồi, Mắt nó thấy mồi ở xa.

30(039-33) Các con nhỏ nó hút huyết, Và hễ nơi nào có xác chết, thì nó bèn có tại đó.

KTCGKPVLiturgy of the Hours Translation (Catholic)Vergleichsübersetzung

1có nhìn thấy nai mẹ đẻ con ?

2và biết được mùa chúng sinh nở ?

3Chúng ngồi xổm, sinh một bầy con, trút bỏ cơn đau đớn.

4rồi bỏ bầy, không trở về với mẹ.

5ai đã cởi dây cột lừa hoang ?

6đồng chua nước mặn làm chỗ dung thân.

7chẳng nghe lời quát tháo của người cai.

8để tìm kiếm cỏ non.

9có chịu qua đêm bên máng cỏ ngươi làm ?

10và liệu nó có chịu đi theo ngươi cày bừa dưới thung lũng ?

11để giao cho nó những công việc nặng nề ?

12và đem lúa về sân phơi của ngươi không ?

13với cánh loài chim hạc, chim ưng.

14phó mặc cho cát bụi nóng ran,

15hay một con thú rừng giày đạp.

16có vất vả luống công, nó cũng không tiếc nuối.

17và không chia cho nó phần trí tuệ.

18nó coi thường ngựa phi và người cưỡi.

19choàng lên cổ nó một cái bờm

20Tiếng nó hí vang, gây kinh hoàng táng đởm.

21chẳng màng chi vũ khí.

22trước mũi gươm, nhất định không lùi bước.

23Trên đầu nó, tên bay vùn vụt, giáo và lao sáng quắc.

24nghe tiếng kèn thúc quân, nó không cầm mình nổi.

25nghe được tiếng tướng lãnh quát vang và tiếng hò xung trận.

26sải cánh hướng về phương nam ?

27tìm nơi cao chót vót mà làm tổ ?

28và nghỉ đêm trong khe núi đá.

29Từ chỏm núi cao, nó rình mồi, đôi mắt nhìn ra xa.

30xác chết ở đâu là nó ở đó.

Vers in die Zwischenablage kopiert